Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) hiện sở hữu hơn 307 di tích lịch sử - văn hóa và gần 400 lễ hội truyền thống, đóng vai trò là không gian văn hóa cội nguồn của dân tộc. Riêng tại địa bàn phường Tiên Cát, trước năm 1945 từng tồn tại quần thể 12 công trình kiến trúc tín ngưỡng (gồm 2 đình, 2 đền, 4 chùa và 4 miếu thờ), nhưng phần lớn đã bị tàn phá hoàn toàn trong giai đoạn kháng chiến 1948 - 1950. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích quá trình tái sinh không gian thiêng và phục dựng lễ hội đền Tiên – nơi phụng thờ Thủy Tổ Quốc Mẫu (mẹ của Lạc Long Quân).

Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm làm rõ sự tác động đa chiều giữa phát triển kinh tế thị trường, sự cởi mở trong chính sách tôn giáo thời kỳ Đổi mới và nhu cầu tâm linh nội tại của nhân dân đô thị. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì trong khung thời gian từ mốc bắt đầu vận động xin cấp đất năm 1995 đến năm 2016. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi hệ thống hóa toàn bộ hồ sơ di sản, giải mã cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa đạt 5.049,5 ngày công lao động và hơn 583 triệu đồng tiền mặt, tạo lập mô hình tham chiếu cho việc quản lý di tích vệ tinh thuộc Quần thể không gian văn hóa Hùng Vương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết tái cấu trúc nghi lễ trong bối cảnh Đổi mới để phân tích sự chuyển dịch của tôn giáo truyền thống khi bước vào nền kinh tế thị trường. Tác giả kết hợp quan điểm nghiên cứu của các học giả chuyên ngành văn hóa dân gian để nhìn nhận lễ hội như một "bảo tàng sống" tích hợp các giá trị lịch sử, đạo đức và mỹ cảm của cộng đồng. Mô hình nghiên cứu đặt trọng tâm vào mối quan hệ tương tác giữa 3 trục động lực: Thể chế chính trị (sự điều chỉnh chính sách văn hóa của Nhà nước), Năng lực kinh tế (nguồn lực công đức của cư dân và doanh nghiệp), và Nhu cầu thực hành tâm linh (ký ức tập thể và khát vọng gắn kết cộng đồng). Bốn khái niệm then chốt được sử dụng xuyên suốt công trình gồm: Không gian thiêng, Phục dựng di tích, Tái tạo truyền thống và Thực hành tín ngưỡng Mẫu thời kỳ Hùng Vương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học, Nhân học văn hóa và Sử học. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu với cỡ mẫu định tính gồm 25 đối tượng tiêu biểu. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích và cuốn tuyết (snowball sampling) được áp dụng để tiếp cận 12 nhân chứng lịch sử cao niên (độ tuổi từ 70 đến 99 tuổi), 5 cán bộ quản lý văn hóa cấp phường - thành phố và 8 tín đồ thường xuyên hành lễ. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này nhằm tái hiện chuẩn xác ký ức về di tích cổ vốn đã bị xóa sổ thực địa từ năm 1950.

Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ 59 trang tài liệu Hán Nôm ngọc phả, 5 đạo sắc phong triều Nguyễn (từ năm Tự Đức thứ 11 - 1858 đến năm Đồng Khánh thứ 2 - 1887) lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Quá trình phân tích dữ liệu lịch đại kết hợp đồng đại diễn ra trong timeline nghiên cứu từ tháng 8/1964 (kế thừa mốc kiểm kê di tích đầu tiên) đến tháng 7/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu thực chứng đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Khát vọng phục dựng bắt nguồn từ ký ức tập thể của Hội người cao tuổi địa phương, trải qua quá trình đàm phán hành chính kéo dài 5 năm (1995 - 1999). Di tích được UBND tỉnh Phú Thọ ra Quyết định số 1042/QĐ-UB ngày 8/5/2000 cấp 300m² đất tại khu vực lò gạch cũ cánh đồng Ngược, lùi 58m so với tim Quốc lộ 2, thay vì nền móng cũ vốn nằm bên trong khuôn viên Nhà máy Bê tông.
  • Toàn bộ nguồn lực xây dựng đền Tiên được thực hiện bằng hình thức xã hội hóa 100%. Tổng kinh phí tiền mặt đạt 583 triệu đồng cùng hiện vật trị giá 350 triệu đồng từ 1.242 cá nhân và 263 tập thể; huy động 5.049,5 ngày công tự nguyện cùng 20.888m³ đất đá phế thải san lấp mặt bằng.
  • Sự biến đổi trong biểu tượng thờ tự: Từ chỗ chỉ có bài vị hoặc tượng nhỏ bằng gỗ trong khám thờ trước năm 1945, không gian thờ tự mới đã được quy chuẩn hóa bằng 6 pho tượng tạc từ đá xanh nguyên khối (tượng Mẫu cao 1,5m, 2 nàng kết nghĩa cao 1,3m và 3 pho tượng Hoàng tử).
  • Nghi thức lễ hội ngày chính kỵ 10/10 Âm lịch được khôi phục dựa trên bản Hương ước năm 1932 (sao lại năm 1942), kết hợp sáng tạo giữa đội tế nam truyền thống và đội tế nữ nhằm tương thích với không gian tín ngưỡng thờ Mẫu đương đại.

Thảo luận kết quả

Sự phục hồi đền Tiên phản ánh quy luật phát triển tất yếu khi kinh tế đô thị hóa tại Tiên Cát tăng trưởng mạnh (dân số tăng từ 10.500 người năm 1984 lên 16.800 người năm 2013, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm sâu chỉ còn 7,5%). Khi điều kiện vật chất được cải thiện, nhu cầu khẳng định căn tính địa phương và thực hành đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" trỗi dậy mạnh mẽ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua Bảng cơ cấu nguồn lực xã hội hóa (trong đó đóng góp tiền mặt chiếm 62,5%, hiện vật và vật tư xây dựng chiếm 37,5%) và Sơ đồ tiến trình 4 giai đoạn phục dựng (1995 - 1999: Giai đoạn vận động chính sách; 2000 - 2003: Giai đoạn khởi công và công nhận di tích cấp tỉnh; 2011 - 2012: Giai đoạn tôn tạo nhà chuông, nhà trống và mở rộng khuôn viên lên 3.000m²; 2015 - 2016: Giai đoạn hoàn thiện nội thất và dát vàng tượng thờ). So với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, đền Tiên là điển hình của sự thỏa hiệp hài hòa giữa quy hoạch công nghiệp hóa và bảo tồn di sản tâm linh.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Mở rộng và đồng bộ quy hoạch không gian di tích: Ban Quản lý đền Tiên phối hợp cùng Sở Xây dựng Phú Thọ đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng khu vực bảo vệ II (diện tích trên 2.000m²), tạo sự kết nối cảnh quan hoàn chỉnh với chùa Cát Tường và Công viên Văn Lang trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Chuẩn hóa hồ sơ khoa học và số hóa tư liệu di sản: UBND phường Tiên Cát cùng các chuyên gia Hán Nôm tiến hành số hóa 100% tài liệu gồm 5 đạo sắc phong, 59 trang ngọc phả chữ Hán và các văn tế cổ, hoàn thành xuất bản tài liệu hướng dẫn thuyết minh chuẩn xác vào năm 2018.
  • Bảo tồn và phục dựng các trò diễn dân gian: Phục hồi giải đua bơi chải 48 tay chèo truyền thống trên sông Thao vào dịp tháng 5 - tháng 6 Âm lịch và điệu múa sinh tiền cổ truyền, nâng tỷ lệ tham gia của lực lượng thanh niên địa phương đạt mức tối thiểu 30% trong các kỳ lễ hội từ năm 2017.
  • Liên kết tuyến du lịch văn hóa tâm linh cội nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đưa đền Tiên vào danh mục điểm đến chính thức của tour du lịch "Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam", kết nối trực tiếp với Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền Hùng nhằm gia tăng lượng khách tham quan thêm 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu Văn hóa học và Tôn giáo học: Cung cấp khung phân tích thực chứng phong phú về sự biến đổi của tín ngưỡng thờ Mẫu thời đại Hùng Vương và cơ chế tiếp biến văn hóa trong thời kỳ quá độ lên kinh tế thị trường.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Đóng vai trò là cẩm nang thực tiễn trong việc xử lý các xung đột về cấp đất tôn giáo, quy hoạch không gian tâm linh và huy động nguồn lực xã hội hóa bảo tồn di tích.
  • Ban quản lý di tích và các nhà thực hành di sản: Hướng dẫn phương pháp khôi phục nghi thức tế lễ, văn tế và trang trí nội tự dựa trên hương ước, ngọc phả lịch sử mà vẫn bảo đảm tính dung hòa với đời sống văn minh đô thị.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành KHXH&NV: Làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn hồi cố nhân chứng lịch sử và kỹ thuật xử lý nguồn tư liệu Hán Nôm trong nghiên cứu di sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Đền Tiên phụng thờ nhân vật lịch sử hay huyền thoại nào?

Đền Tiên thờ Thủy Tổ Quốc Mẫu (Bạch Tổ Mẫu), thân mẫu của Lạc Long Quân và là bà nội của các Vua Hùng. Cùng phối thờ tại đền có 2 vị công chúa kết nghĩa (Thủy Tinh, Bạch Hoa) và 3 vị hoàng tử Cự Linh, Ất Linh, Thông Thủy theo ghi chép từ hệ thống ngọc phả năm 1977 và thần tích lưu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội.

2. Tại sao đền Tiên hiện nay không được xây dựng trên vị trí nền móng cổ?

Nền đền cổ bị sập đổ năm 1950 và nằm trong khuôn viên Nhà máy Bê tông Việt Trì (khởi công năm 1958). Để đảm bảo an toàn sản xuất công nghiệp và mỹ quan đô thị, năm 2000 UBND tỉnh Phú Thọ đã cấp 300m² đất tại khu vực lò gạch cũ cánh đồng Ngược, lùi 58m so với Quốc lộ 2 để phục dựng đền mới.

3. Nguồn lực phục dựng đền Tiên được huy động như thế nào?

Toàn bộ công trình được kiến thiết bằng nguồn lực xã hội hóa với 5.049,5 ngày công lao động tự nguyện của nhân dân, 583 triệu đồng tiền mặt và hiện vật quy đổi trị giá 350 triệu đồng. Có 1.242 cá nhân và 263 tập thể tham gia đóng góp, tiêu biểu như Nhà máy Bê tông công đức 25 triệu đồng.

4. Điểm đặc sắc nhất trong nghi lễ của lễ hội đền Tiên là gì?

Lễ hội tổ chức ngày chính kỵ 10/10 Âm lịch dựa theo Hương ước năm 1932. Nghi thức tế lễ độc đáo khi duy trì đồng thời cả đội tế nam và tế nữ, kết hợp các quy định khắt khe về chọn tế chủ (người cao tuổi có uy tín, gia đình song toàn) và kiêng kỵ trang phục màu vàng hoặc xanh cánh chả.

5. Luận văn đóng góp gì cho công tác quản lý di sản tại Phú Thọ?

Công trình đã hệ thống hóa toàn bộ cứ liệu lịch sử 5 đạo sắc phong triều Nguyễn, 59 trang ngọc phả chữ Hán, đồng thời vạch ra mô hình tương tác hiệu quả giữa chính quyền - cộng đồng người cao tuổi - doanh nghiệp trong bảo tồn di sản thời kỳ Đổi mới.

Kết luận

  • Luận văn tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử và quá trình phục dựng đền Tiên từ đống đổ nát chiến tranh trở thành Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh năm 2003.
  • Chứng minh tính ưu việt của mô hình xã hội hóa di sản với hơn 5.000 ngày công và gần 1 tỷ đồng tiền mặt, hiện vật từ sự đồng thuận của nhân dân.
  • Làm rõ sự tiếp nối và thích ứng linh hoạt của tín ngưỡng Thủy Tổ Quốc Mẫu trong lòng cấu trúc xã hội đô thị hóa hiện đại.
  • Đề xuất hệ giải pháp mang tính chiến lược nhằm kết nối đền Tiên vào không gian du lịch văn hóa cội nguồn Hùng Vương giai đoạn 2016 - 2030.
  • Khẳng định giá trị của ký ức dân gian và tư liệu Hán Nôm trong việc xác lập chủ quyền văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Công trình là tài liệu khoa học nền tảng phục vụ đắc lực cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế du lịch bền vững tại vùng đất Tổ Phú Thọ. Hãy khai thác và ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu của luận văn vào thực tiễn quản lý văn hóa cơ sở ngay hôm nay!