Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" do nghiên cứu sinh Lương Thị Huyền Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Hữu Toàn, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đời sống xã hội của con người bao gồm hai phương diện cơ bản là vật chất và tinh thần, tương ứng với hai lĩnh vực hoạt động thực tiễn là kinh tế và văn hóa. Tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cùng tồn tại trong một thể thống nhất, tác động qua lại, quy định lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. Sự hài hòa giữa hai yếu tố này là tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Về mặt lý luận, việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa đòi hỏi sự luận giải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI đã xác định đây là một trong tám mối quan hệ lớn cần giải quyết; Nghị quyết Đại hội XII tiếp tục khẳng định đây là một trong chín mối quan hệ lớn cần thực hiện trong quá trình đổi mới.
Về mặt thực tiễn, sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986–2016), Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, sự phát triển trên thực tế chủ yếu tập trung cho lĩnh vực kinh tế mà chưa đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa và xây dựng con người. Tình trạng này dẫn đến nghịch lý: kinh tế tăng trưởng nhưng xuất hiện sự suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, lối sống, gia tăng chủ nghĩa thực dụng và nảy sinh nhiều bất cập trong giáo dục. Nhằm giải quyết sự thiếu đồng bộ và những đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là từ những luận giải lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, làm rõ thực trạng của mối quan hệ này tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả mối quan hệ đó.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Luận giải một số vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa.
- Phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), nguyên nhân của thực trạng đó và một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp mang tính định hướng nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2016.
- Phạm vi nội dung: Về tăng trưởng kinh tế, luận án khảo sát dựa trên hai tiêu chí là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập bình quân đầu người (GDP/người). Về phát triển văn hóa, luận án giới hạn khảo sát trên ba lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; và giáo dục - đào tạo. Về mối quan hệ, luận án tập trung làm rõ sự tương tác hai chiều và hệ quả của sự tương tác qua lại giữa hai lĩnh vực.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:
Các công trình nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa
- Nghiên cứu quốc tế:
- Arnold Toynbee (1972, bản dịch tiếng Việt 2002) trong công trình đồ sộ 12 tập Nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải khảo sát 31 nền văn minh và khẳng định văn hóa là động lực của sự phát triển.
- Tác phẩm Giáo dục - của cải nội sinh do J. Delors (trong văn bản ghi J. Dolo) chủ biên nhấn mạnh giáo dục hình thành nhân cách văn hóa là nội dung cốt lõi của thế kỷ XXI.
- Thông cáo Hướng tới các cộng đồng tri thức (2003) tại Hội nghị bàn tròn các Bộ trưởng Giáo dục thuộc UNESCO nhấn mạnh xã hội tri thức bảo đảm quyền con người, đa dạng văn hóa và giáo dục chất lượng.
- Alvin Toffler (2002) trong bộ ba tác phẩm Thăng trầm quyền lực, Cú sốc tương lai, Làn sóng thứ ba phân tích lịch sử loài người qua ba làn sóng văn minh (nông nghiệp, công nghiệp, tin học) và khẳng định sự trỗi dậy của quyền lực tri thức.
- Samuel P. Huntington (2003) trong Sự va chạm của các nền văn minh chỉ ra nguồn gốc xung đột toàn cầu sau Chiến tranh Lạnh chuyển dịch sang các ranh giới văn hóa.
- Thomas Friedman trong Chiếc Lexus và cây Ôliu phân tích xung đột giữa hệ thống toàn cầu hóa hiện đại với sức mạnh văn hóa, địa lý, truyền thống bản địa.
- David Throsby với hai tác phẩm Economics and Culture (2001) và The Economics of Cultural Policy (2010) đưa ra khái niệm vốn văn hóa, tính bền vững, sự tương tác giữa giá trị kinh tế và giá trị văn hóa trong các ngành công nghiệp sáng tạo.
- Nghiên cứu trong nước:
- Đề tài KX.05-01 của Hồ Sỹ Quý (2006) khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam nghiên cứu phát triển văn hóa, con người trong kinh tế thị trường.
- Trần Thọ Đạt (2008) trong Các mô hình tăng trưởng kinh tế và công trình phối hợp cùng Đỗ Tuyết Nhung (2008) Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam phân tích các yếu tố đầu vào của tăng trưởng và kiểm chứng vai trò của vốn con người giai đoạn 2000–2004.
- Các nghiên cứu của Đỗ Huy (2009), Đinh Xuân Dũng (2010), Hoàng Chí Bảo (2010), Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung (2011), Đặng Hữu Toàn (2011), Nguyễn Ngọc Hòa (2011), Trần Văn Bính (2011), Phùng Hữu Phú (2012), Hà Đăng (2012), Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2012), Đỗ Thị Minh Thúy (2012), Đỗ Ngọc Anh và Đỗ Thị Minh Thúy (2013), Hội đồng Lý luận Trung ương (2013), Nguyễn Tài Đông (2013), Đinh Thế Huynh cùng các đồng chủ biên (2016).
Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện mối quan hệ
Các công trình của Đặng Hữu Toàn (2000, 2001), Nguyễn Văn Nam (2006), Nguyễn Phú Trọng (2006), Trần Đức Hiệp (2008), Phạm Duy Đức (2010), Đỗ Huy (2011), Trần Văn Bính (2011, 2012), Trần Thị Minh (2012), Đào Duy Quát (2012), Cao Thu Hằng (2013), Lê Quốc Lý (2013), Trần Ngọc Hiên (2013) và Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2014) đã tập trung đánh giá thành tựu (kinh tế tăng trưởng tạo cơ sở vật chất cho văn hóa) cùng các hạn chế (tăng trưởng theo chiều rộng, ô nhiễm môi trường, văn hóa xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục chậm đổi mới).
Các công trình nghiên cứu về phương hướng và giải pháp
Các công trình của Vũ Đình Bách (1998), Phan Trọng Thưởng (2010, đề tài KX 03.08/06-10), Phạm Duy Đức (2010), Đinh Xuân Dũng (2011), Vũ Văn Phúc (2012), Nguyễn Hồng Vinh (2012) đề xuất các giải pháp về tái cơ cấu kinh tế, đầu tư nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với phát triển văn hóa.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Qua tổng quan tài liệu, tác giả chỉ ra các khoảng trống cần tiếp tục làm rõ:
- Đa số các công trình tiếp cận riêng biệt từ giác độ kinh tế học hoặc văn hóa học; chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa khái niệm tường minh về "mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa" dưới góc độ triết học.
- Chưa có công trình phân tích một cách hệ thống các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết mối quan hệ này tại Việt Nam.
- Yếu tố chủ thể nhận thức và chủ thể thực hiện việc giải quyết mối quan hệ kinh tế - văn hóa chưa được làm rõ trong các nghiên cứu trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Hệ tư tưởng và lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin (quy luật quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; các quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về con người và hình thái kinh tế - xã hội), tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ("văn hóa soi đường cho quốc dân đi"), quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội và các Nghị quyết chuyên đề (Đề cương văn hóa năm 1943, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI).
- Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Sự gia tăng về quy mô sản lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong một nền kinh tế qua một thời kỳ nhất định, đo bằng GDP và GDP/người.
- Khái niệm phát triển văn hóa: Luận án tiếp cận văn hóa theo nghĩa hẹp (nghĩa nhân bản truyền thống, không đồng nhất với văn minh). Phát triển văn hóa là quá trình vận động theo chiều hướng tiến bộ của các giá trị nền tảng tinh thần của xã hội do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng tới hệ chuẩn giá trị Chân - Thiện - Mỹ, bao gồm môi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức, lối sống và giáo dục - đào tạo.
- Khái niệm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa: Mối quan hệ nội tại, tất yếu, mang tính quy định, ràng buộc, tác động biến đổi lẫn nhau giữa hai lĩnh vực. Kinh tế là cơ sở, tạo điều kiện vật chất và là động lực cho văn hóa; văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực nội sinh và nhân tố điều tiết sự tăng trưởng kinh tế.
+-------------------------------------------------------------------------+
| MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA |
| |
| +-----------------------+ +----------------------------+ |
| | TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ | ---------> | PHÁT TRIỂN VĂN HÓA | |
| | - Quy mô GDP | (Nền tảng | - Tư tưởng, đạo đức | |
| | - Thu nhập GDP/người | vật chất, | - Môi trường văn hóa | |
| | - Nguồn lực đầu tư | động lực) | - Giáo dục - đào tạo | |
| +-----------------------+ +----------------------------+ |
| ^ | |
| | (Nền tảng tinh thần, mục tiêu, | |
| +-------- động lực, nhân tố điều tiết) --+ |
+-------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử - logic;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp khái quát hóa;
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp và liên ngành.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án gồm các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; báo cáo tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội chính thức của Nhà nước; các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương (11 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả và Tài liệu tham khảo.
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương này thực hiện việc điểm luận hệ thống các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng: lý luận, thực trạng, phương hướng - giải pháp. Tác giả chỉ rõ những kết quả đã đạt được trong giới học thuật, đồng thời xác định khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết: xây dựng khái niệm triết học về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, xác định hệ thống chủ thể và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết mối quan hệ này tại Việt Nam.
Chương 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa - Một số vấn đề lý luận
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ công trình:
- Làm rõ các khái niệm: Phân tích nội hàm khái niệm tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa hai yếu tố này.
- Xác định chủ thể của mối quan hệ: Luận án chỉ rõ ở Việt Nam, chủ thể lãnh đạo, định hướng đường lối là Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ thể quản lý, điều hành và thể chế hóa là Nhà nước; chủ thể trực tiếp thực hiện là toàn thể nhân dân (bao gồm các chủ thể doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và từng cá nhân).
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng:
- Nhân tố khách quan: Môi trường địa lý tự nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.
- Nhân tố chủ quan: Năng lực quản lý của bộ máy Nhà nước, nhận thức của các chủ thể xã hội, trình độ dân trí và việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
- Nội dung mối quan hệ: Phân tích tính tất yếu phải gắn kết kinh tế với văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; làm rõ cơ chế tác động qua lại: tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất cho văn hóa, ngược lại văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực nội sinh và nhân tố điều tiết đối với tăng trưởng kinh tế.
| Yếu tố phân tích |
Tăng trưởng kinh tế |
Phát triển văn hóa |
| Tiêu chí khảo sát |
GDP, GDP/người |
Tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; giáo dục |
| Vai trò đối với vế kia |
Cơ sở vật chất, tiền đề, động lực vật chất |
Nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, nhân tố điều tiết |
| Chủ thể giải quyết |
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Doanh nghiệp và Nhân dân thực hiện |
Toàn xã hội tham gia, Nhà nước quản lý, trí thức giữ vai trò nòng cốt |
| Nhân tố chi phối |
Vốn, lao động, công nghệ, thể chế kinh tế |
Truyền thống, lối sống, giáo dục, giao lưu quốc tế |
Chương 3: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 phân tích thực trạng thực hiện mối quan hệ này trong 30 năm đổi mới:
- Về thành tựu:
- Tăng trưởng kinh tế đã tạo lập nền tảng vật chất và nguồn lực tài chính đáng kể để xây dựng cơ sở hạ tầng văn hóa, phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo, nâng cao mức hưởng thụ đời sống tinh thần của nhân dân.
- Phát triển văn hóa từng bước phát huy vai trò nền tảng tinh thần, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, tạo động lực tinh thần cho lao động sản xuất và điều tiết các hành vi kinh tế theo hướng nhân văn.
- Về hạn chế:
- Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ (tăng trưởng theo chiều rộng), hiệu quả và tính bền vững chưa cao, chưa tạo đủ nguồn lực vững chắc cho phát triển văn hóa.
- Lĩnh vực văn hóa xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực: sự suy thoái tư tưởng chính trị, tha hóa đạo đức, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền; môi trường văn hóa bị ô nhiễm bởi các tệ nạn; hệ thống giáo dục - đào tạo còn nhiều bất cập, chậm đổi mới.
- Về nguyên nhân và vấn đề đặt ra:
- Nguyên nhân: Nhận thức về vai trò của văn hóa ở một số cấp lãnh đạo còn lệch lạc, coi trọng phát triển kinh tế mà coi nhẹ văn hóa; quản lý nhà nước về văn hóa còn bất cập; chưa kiểm soát hiệu quả mặt trái của kinh tế thị trường.
- Vấn đề đặt ra: Cần giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống; xử lý sự phân hóa giàu nghèo và bảo đảm công bằng xã hội.
Chương 4: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Phương hướng và giải pháp
Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp thực hiện cho giai đoạn tiếp theo:
- Phương hướng:
- Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng nhanh kết hợp hài hòa với xây dựng nền văn hóa thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học nhằm phát triển bền vững đất nước.
- Thực hiện mối quan hệ kinh tế - văn hóa có hiệu quả, phát huy đồng thời vai trò của cả kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức, hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện: Thực hiện đồng bộ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
- Tạo nguồn lực: Huy động và phân bổ hợp lý các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho cả tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, giáo dục.
- Thực hiện đổi mới đồng bộ: Kết hợp chặt chẽ việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng các chuẩn mực văn hóa, phát triển con người toàn diện.
- Kiểm soát tác động của kinh tế thị trường: Phát huy các yếu tố năng động, sáng tạo của kinh tế thị trường, đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi các tác động tiêu cực, phản văn hóa.
- Tăng cường hội nhập quốc tế: Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và chủ động hội nhập văn hóa thế giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện quan niệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa dưới góc độ triết học Mác - Lênin trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Xác định rõ hệ thống chủ thể tham gia nhận thức và giải quyết mối quan hệ này (Đảng, Nhà nước, Nhân dân), đồng thời hệ thống hóa các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới quá trình thực hiện.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích một cách khách quan, toàn diện thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế đó.
- Luận giải và đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có cơ sở lý luận và tính khả thi nhằm gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định, luận án giới hạn khảo sát tăng trưởng kinh tế ở hai chỉ tiêu vĩ mô cơ bản (GDP và GDP/người) và khảo sát phát triển văn hóa ở phạm vi hẹp gồm ba phân hệ (tư tưởng - đạo đức - lối sống, môi trường văn hóa, giáo dục - đào tạo). Các khía cạnh chuyên sâu khác như công nghiệp văn hóa hay thị trường sản phẩm văn hóa chưa được phân tích sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế thể chế hóa cụ thể sự lồng ghép chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế theo từng ngành kinh tế mũi nhọn và từng vùng văn hóa đặc thù của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sâu rộng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử), Xã hội học, Văn hóa học và Lý luận chính trị khi nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa.
- Đối với hoạch định chính sách: Luận án cung cấp các luận cứ lý luận và thực tiễn phục vụ công tác tư vấn, xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu văn hóa - xã hội trong chiến lược phát triển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận khái niệm "văn hóa" theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp?
Tác giả tiếp cận khái niệm văn hóa theo nghĩa hẹp (nghĩa nhân bản truyền thống, không bao hàm khái niệm văn minh). Theo đó, văn hóa được hiểu là nền tảng tinh thần của xã hội do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống, hướng tới hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ, tập trung khảo sát trên ba lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; và giáo dục - đào tạo.
2. Chủ thể giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam gồm những ai?
Chủ thể gồm ba cấp độ: Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, đề ra chủ trương, đường lối; Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều hành và thể chế hóa bằng pháp luật, chính sách; toàn thể Nhân dân (các tổ chức doanh nghiệp, cộng đồng xã hội và cá nhân) là chủ thể trực tiếp thực hiện.
3. Hạn chế lớn nhất trong thực tiễn giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?
Hạn chế lớn nhất là sự phát triển thiếu đồng bộ: mô hình kinh tế chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, hiệu quả chưa cao; trong khi đó, đời sống văn hóa xuất hiện sự suy thoái về tư tưởng, xuống cấp đạo đức, lối sống thực dụng và nhiều bất cập trong ngành giáo dục.
4. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp chính để giải quyết mối quan hệ này?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức, hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; (2) Tạo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; (3) Thực hiện đổi mới đồng bộ trên cả hai lĩnh vực; (4) Phát huy yếu tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường; (5) Tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế gắn với phát triển văn hóa.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lương Thị Huyền Trang là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Triết học, phân tích có hệ thống mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa tại Việt Nam giai đoạn 1986–2016. Tác giả đã làm rõ khung lý luận, xác định chủ thể và các nhân tố chi phối, đồng thời đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của thực tiễn 30 năm đổi mới. Công trình đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm gắn kết mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và toàn diện con người Việt Nam.