CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN TRUYEN THONG CHÍNH SÁCH PHAP LUẬT VE LAO DONG TREN BAO ĐIỆN TỬ 1. Cac khái niệm liên quan 1. Truyền thông Thuật ngữ “truyền thông” theo tiếng Anh là “Communication”, có nghĩa là sự truyền đạt, giao tiếp, trao đôi, liên lạc, giao thông, thông báo. Nội hàm của truyền thông là phương tiện, cách thức, nội dung, là con đường dé đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cộng đồng xã hội và giữa cá nhân với cá nhân.
Truyền thông ra đời do nhu cầu khách quan của xã hội về thông tin giao tiếp của con người và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kinh tế - xã hội. Nhờ có sự ra đời của truyền thông giao tiếp, mà con người phát triển từ nhiên, trở thành con người của xã hội. Trong cuốn “Ly thuyết truyền thông nâng cao”, xuất bản năm 2019, tác giả Phạm Hải Chung đã đề cập đến khái niệm về truyền thông của một số nhà nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới; trong đó có một số khái niệm tiêu biểu như: Gerald Miler (1966) cho rằng, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi của họ. Còn với Keith Davis (năm 1967) cho răng, truyền thông là quá trình truyền thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác.
Trong khi đó, đưa ra khái niệm về truyền thông, các tác giả Charles Summer va William Newman (năm 1977) cho rang, truyền thông là sự trao đổi quan điểm, ý tưởng, sự việc hay cảm xúc của hai hoặc nhiều người.14-15] Dua ra khái niệm truyền thông, trong cuốn “Giáo trình lý luận báo chí truyền thông”, xuất bản năm 2015, tác giả Dương Xuân Son cho rằng: “7ruyên thông là một quá trình liên tục trao đối hoặc chia sẻ thông tin, kỹ năng, tình cảm nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau đề dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức ” [43 tr.19] Ở định nghĩa này, tác giả cũng đưa ra những khía cạnh cần lưu ý đó là, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không hoạt động truyền thông sẽ không mang ý nghĩa. Ở khía cạnh khác, truyền thông là một quá trình - bởi nó không phải là một việc làm nhất thời, hay xảy ra trong một thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian dài, mang tính liên tục. Đây 19 là quá trình chia sẻ, trao đổi thông tin qua lại giữa các thực thể với nhau. Và cuối cùng, một yếu tố rất quan trọng đối với hiệu quả của truyền thông, đó là truyền thông phải dẫn đến sự hiéu biết lẫn nhau.
Còn trong cuén “7?ruyên thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, tac giả Nguyễn Văn Dững - Đỗ Thị Thu Hằng, viết năm 2018; các tác giả cũng đã đưa ra định nghĩa truyền thông - “là quá trình liên tục trao doi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường sự hiểu biết lần nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhan/nhom/cong dong xã hộ¡”. Pháp luật Pháp luật xuất hiện trong xã hội như là một tất yếu khách quan, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh xã hội cũng như lợi ích của giai cấp thống trị. Pháp luật, một mặt là công cụ mà giai cấp thống trị thông qua Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội, mặt khác nó là chuân mực ứng xử chung, là tổng hợp các quy tắc được cấu thành từ các mối quan hệ tự nhiên của con người và nhu cầu xã hội. Trong cuốn cuốn giáo trình “Pháp luật Đại cương”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, xuất bản năm 2015, nêu rõ, về phương diện khoa học pháp lý, không có khái niệm pháp luật thống nhất.
Tuy nhiên, tùy vào các trường phái pháp luật khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau về pháp luật. Dựa theo quan điểm phổ biến thì “Pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành, nhằm diéu chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp thong trị và được Nhà nước đảm bao thực hiện ”.40] Cũng dé cập đến khái niệm pháp luật, trong cuốn “Giáo trình Đại cương về Nhà nước và Pháp luật”, Nguyễn Thị Huế, viết năm 2019, pháp luật được hiểu là thước đo của hành vi, là những chuẩn mực xã hội. và nó mang tính quyền lực Nhà nước. Theo tác giả, pháp luật có nguồn gốc từ xã hội, là nhân tố trật tự hóa và điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật còn là công cụ đề giai cấp cầm quyền thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và hợp pháp hóa quan hệ thống trị đối với xã hội. 20 Qua những nghiên cứu khoa học, tác giả Nguyễn Thị Huế đưa ra quan điểm “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng và mục tiêu cụ thể”. Từ khái niệm về pháp luật, tác giả cũng đề cập đến những đặc điểm cơ bản của pháp luật, đó là một hệ thống các quy tắc xử sự chung: thé hiện ý chí của giai cấp thống tri trong xã hội và được hình thành trong quá trình đấu tranh giai cấp và do giai cấp thống trị ban hành hoặc thừa nhận. Chính sách, chính sách công, truyền thông chính sách pháp luật Chính sách Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phô biến trên các phương triện truyền thông và các tài liệu nghiên cứu.
Tuy nhiên, nó cũng là thuật ngữ khó có thé định nghĩa được rõ ràng. Trong cuốn “Tir điển Bách khoa Việt Nam”, xuất ban năm 1995, thì chính sách là những chuẩn tắc cụ thê nhằm thực hiện các nhiệm vụ, đường lối và được thực hiện trong một thời gian nhất định và cụ thể trên những lĩnh vực nào đó. Bản chất, phương hướng hay nội dung của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối lãnh đạo, nhiệm vụ chính trị, kinh tế. của giai cấp thống tri tại một thời điểm cụ thể [47, tr.
Cuốn giáo trình “Chính sách công”, của các tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy và Bùi Thị Hồng Việt, xuất bản năm 2019, các tác giả cho răng, thuật ngữ chính sách được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội. Trong đó, mọi chủ thể đều có những chính sách kinh tế - xã hội của mình; như chính sách của doanh nghiệp, hay cá nhân, hoặc chính sách pháp luật của Đảng, của một quốc gia hay, một tổ chức quốc tế. Theo quan niệm phô biến “chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những van dé lặp di lặp lai”, [48, tr21] Ở góc độ tiếp cận xã hội, trong cuốn giáo trình “Khoa học chính sách”, tác giả Vũ Cao Đàm, xuất ban năm 2011, chính sách là tập hợp những biện pháp do chủ thé quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thé cho một - hoặc một số nhóm xã hội, giảm lợi thế 21 của một - hoặc một số nhóm xã hội khác, dé thúc đây việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu xã hội mà chủ thé quyền lực đang hướng tới [1 1, tr. Chính sách công Hiện nay, khái niệm chính sách công ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong đời sông xã hội, hay trên các phương tiện truyền thông báo chí.
Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức rõ về khái niệm, cũng như bản chất của chính sách công. Thậm chí, ngay cả trong các văn bản chính thức cũng có nhiều sự chồng chéo, khác biệt với những cách hiệu khác nhau. Trong cuốn “Chính sách công” xuất bản năm 2019, các tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy và Bùi Thị Hồng Việt đã đưa ra một số khái niệm về chính sách công. Trong đó, tác gia Richard C.
Remy năm 2004, United States Government - Democracy in Action. Glencoe, McGraw - Hill năm 2004 đưa ra định nghĩa: “Chính sách công là một hành động nao đó ma Nhà nước lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện `. Từ những khái niệm trên, các tác giả cuốn sách đưa ra khái niệm về chính sách công, “là tổng thể các quan điển, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thé kinh tế - xã hội nhằm giải quyết vấn dé chính sách, thực hiện các mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thể của dat nước”, [48, tr25] Cuốn sách “Lý thuyét và kỹ năng truyén thông chính sách”, tác giả Lương Ngọc Vĩnh (chủ biên), xuất bản năm 2021, đề cập, chính sách công là một trong những vấn đề hệ trọng của chính trị và khoa học chính trị. Tuy nhiên, cho đến nay, trên thế giới cũng như ở nước ta, nhận thức về vấn đề này vẫn chưa thống nhất, thậm chí còn có những quan niệm trái ngược nhau.
Từ những khái niệm và nội dung liên quan đến chính sách công, nhóm tác giả cuốn sách “Ly thuyét và kỹ năng truyền thông chính sách” đưa ra khái niệm về chính sách công, “/d quyét định cua các chủ thể quyên lực Nhà nước, nhằm quy định mục dich, cách thức và chế định hành động của những đổi tượng liên quan, dé giải quyết những van dé nhất định mà xã hội đặt ra”. Mục tiêu cơ bản của chính sách công là hiệu quả xã hội, và nó được ban hành nhăm góp phân ôn định, phát triên xã hội, bảo đảm cho mọi người sông dân chủ, 22 văn minh, công bằng và tiến bộ. Vì thế, việc xây dựng chính sách công cũng phải được thực hiện theo một chu trình, hay quá trình từ hoạch định đến việc thực hiện và cuối cùng cho ra kết quả. Về tổng thé, chính sách công có thé được coi là một chu trình và nó bao gồm 3 quá trình đó là: Hoạch định chính sách; Thực hiện chính sách; Đánh giá chính sách.
Các quá trình trên liên quan chặt chẽ tới công tác truyền thông chính sách. Nếu truyền thông tốt, đúng và trúng, chính sách sẽ nhanh chóng tạo được sự đồng thuận xã hội và ngược lại. Truyền thông chính sách pháp luật Trước hết phải hiểu rằng, truyền thông chính sách là quá trình quảng bá, phố biến thông tin về chính sách sau khi được Nhà nước ban hành đến người dân, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.