Luận Văn Thạc Sĩ Về Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục Trên Hệ Thống Báo Chí Giai Đoạn 2016-2017

Luận văn thạc sĩ phân tích truyền thông chính sách giáo dục trên báo chí giai đoạn 2016-2017, cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngành giáo dục.

Chuyên ngành

Báo Chí Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

95
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN 2016 – 2017

1.1. Hệ thống các khái niệm

1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo và tầm quan trọng của truyền thông giáo dục

1.3. Đặc trưng thế mạnh của các loại hình báo chí trong truyền thông chính sách Giáo dục và Đào tạo

1.4. Truyền thông chính sách dưới góc nhìn của lý thuyết Agenda setting

1.5. Hệ thống báo chí của ngành giáo dục và đào tạo

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO CHÍ CỦA NGÀNH

2.1. Tần suất xuất hiện các tin, bài

2.2. Những nội dung chính được đề cập

2.3. Hình thức chuyển tải thông điệp

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TRÊN HỆ THỐNG BÁO CHÍ CỦA NGÀNH

3.1. Một số vấn đề đặt ra

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của truyền thông chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí của ngành

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục Giai Đoạn 2016 2017

Truyền thông chính sách giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức và hành động của xã hội đối với giáo dục. Giai đoạn 2016-2017 chứng kiến nhiều thay đổi trong chính sách giáo dục tại Việt Nam, từ việc cải cách chương trình học đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Các cơ quan báo chí đã trở thành cầu nối giữa chính sách và công chúng, giúp truyền tải thông tin một cách hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và Vai trò của Truyền Thông Giáo Dục

Truyền thông giáo dục không chỉ đơn thuần là việc cung cấp thông tin mà còn là quá trình tạo ra sự hiểu biết và nhận thức về các chính sách giáo dục. Nó giúp nâng cao dân trí và tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

1.2. Tình hình Giáo Dục Việt Nam Giai Đoạn 2016 2017

Trong giai đoạn này, nhiều chính sách giáo dục mới đã được ban hành, như Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT. Những thay đổi này đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho ngành giáo dục.

II. Những Thách Thức Trong Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc truyền thông chính sách giáo dục, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như thông tin không đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa các cơ quan truyền thông và chính quyền, và sự thiếu quan tâm từ phía công chúng đã gây khó khăn cho việc truyền tải thông điệp.

2.1. Thiếu Sự Đồng Bộ Trong Thông Tin

Nhiều khi thông tin từ các cơ quan khác nhau không nhất quán, dẫn đến sự nhầm lẫn và hoài nghi từ phía công chúng về các chính sách giáo dục.

2.2. Sự Thiếu Quan Tâm Từ Công Chúng

Nhiều người dân không quan tâm đến các chính sách giáo dục, dẫn đến việc thông tin không được tiếp nhận và hiểu đúng.

III. Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục

Để cải thiện hiệu quả truyền thông chính sách giáo dục, cần áp dụng các phương pháp mới và sáng tạo. Việc sử dụng công nghệ thông tin và mạng xã hội có thể giúp tiếp cận đối tượng rộng hơn và tạo ra sự tương tác tích cực.

3.1. Sử Dụng Công Nghệ Thông Tin

Công nghệ thông tin có thể giúp truyền tải thông điệp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, đồng thời tạo ra các kênh thông tin đa dạng cho công chúng.

3.2. Tăng Cường Tương Tác Với Công Chúng

Tạo ra các diễn đàn, hội thảo để công chúng có thể tham gia và đóng góp ý kiến về các chính sách giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức và sự đồng thuận.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục

Việc áp dụng các phương pháp truyền thông hiệu quả đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các cơ quan báo chí đã có những bài viết chất lượng, phản ánh đúng tình hình giáo dục và chính sách mới, từ đó tạo ra sự quan tâm từ phía công chúng.

4.1. Các Bài Viết Tiêu Biểu Về Giáo Dục

Nhiều bài viết đã phân tích sâu sắc các chính sách giáo dục, giúp công chúng hiểu rõ hơn về những thay đổi và tác động của chúng.

4.2. Tác Động Đến Nhận Thức Của Công Chúng

Sự quan tâm của công chúng đối với giáo dục đã tăng lên, nhờ vào các chiến dịch truyền thông hiệu quả từ các cơ quan báo chí.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục

Truyền thông chính sách giáo dục sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của giáo dục tại Việt Nam. Cần có những chiến lược dài hạn để nâng cao chất lượng và hiệu quả của truyền thông trong lĩnh vực này.

5.1. Định Hướng Chiến Lược Truyền Thông

Cần xây dựng các chiến lược truyền thông rõ ràng, nhằm đảm bảo thông tin được truyền tải một cách hiệu quả và chính xác.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Cơ Quan

Sự hợp tác giữa các cơ quan báo chí và chính quyền sẽ giúp tạo ra một hệ thống truyền thông đồng bộ và hiệu quả hơn.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh truyền thông chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí của ngành giai đoạn 2016 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông chính sách giáo dục Chương 2: Thực trạng truyền thông chính sách Giáo dục và Đào tạo trên hệ thống báo chí của ngành giai đoạn 2016 – 2017 Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng, hoạt động truyền thông chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí của ngành 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC 1.Hệ thống các khái niệm Truyền thông Theo John R. Hober (1954) truyền thông là quá trình trao đổi tư duy và ý tưởng bằng lời, còn Gerald Miler (1966) cho rằng về cơ bản truyền thông quan tâm nhất tới tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng truyền thông là một quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết chế có chủ đích. Truyền thông là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/ nhóm/ xã hội từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi thành hành vi.

Nói cách khác, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác, và làm cho người khác hiểu được chúng ta (Martin P. Adersen 1959 trích theo Frank Dance 1970). Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Truyền thông ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội về thông tin giao tiếp của loài người, do trình độ và điều kiện kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

Tại Hội thảo Khoa học Quốc tế: Truyền thông chính sách - Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu Nhân dân và Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp đồng tổ ngày 1/11/2016 tại Hà Nội) cho rằng: Truyền thông là khái niệm có thể được tiếp cận dưới hai cấp độ: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, truyền thông là hiện tượng xã hội, được nhìn nhận như một quá trình liên tục thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội. Thứ hai, tiếp cận ở bình diện quan điểm cấu trúc chức năng – bản chất xã hội, truyền thông được nhìn nhận như một thiết chế kiến tạo xã hội, là phương tiện và phương thức thông tin giao tiếp xã hội, phương tiện và phương thức kết nối xã hội, là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội, là phương tiện và phương thức phục vụ quyền lực chính trị.Truyền thông là thiết chế xã hội rộng lớn hoạt động trong mối quan hệ với mỗi cá nhân cũng như các thiết chế xã hội khác một cách thường xuyên, liên tục, trong đó, truyền thông đại chúng và báo chí có thể được coi là những hạt nhân có vai trò chi phối sức mạnh, khuynh hướng và tính chất của nền truyền thông xã hội nói chung. Với tư cách là thiết chế kiến tạo xã hội, truyền thông có thể đảm nhận vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và thực thi chính sách công, bảo đảm huy động nguồn lực sáng tạo, trí tuệ và cảm xúc của nhân dân trong quá trình phát triển, nhất là bảo đảm phát triển bền vững. Truyền thông đại chúng là một dạng thức truyền thông đặc biệt trong lịch sử loài người - khi mà người truyền thông tin có thể truyền tải thông điệp cho đông đảo quần chúng về số lượng và rộng khắp về địa lý - điều mà các cách thức truyền thông trước đó không thể nào có được.

Nói theo Lerner (1957 trích theo Trần Hữu Quang 2008), thì sự chuyển tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống truyền thông đại chúng chính là một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại. Có nhiều PTTTĐC ( Phương thức Truyền thông đại chúng) khác nhau, phổ biến nhất là báo in, phát thanh, truyền hình và Internet. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các PTTTĐC có vai trò rất quan trọng đối với đời 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống xã hội. Trong cuốn sách The Power Elite [6], C.

Wright Mills định nghĩa, các phương tiện truyền thông đại chúng có hai đặc trưng xã hội quan trọng: 1) số ít người có thể liên lạc được với rất nhiều người, và 2) công chúng không có cách thức hiệu quả nào để phản hồi thông tin. Truyền thông đại chúng lúc đó được định nghĩa là quá trình một chiều. Cho đến thời điểm hiện nay - thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21, với sự ra đời của internet, và mạng xã hội, công chúng không chỉ đơn giản là người tiêu thụ thông tin, là phóng viên, biên tập viên. Thực tế này đã được Henry Jenkins nhắc đến từ năm 1992 với tên gọi: Văn hoá tham gia - participatory culture.

Chính sách Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Theo GS. Nguyễn Minh Thuyết: “Chính sách là đường lối cụ thể của một chính Đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy.

Cấu trúc của chính sách: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thể ban hành Chính sách: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty…”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách công Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội, các tác giả đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”.

Theo TS Đặng Ngọc Lợi: “trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước”. Những đặc trưng trong mỗi luận cứ của mối tác giải phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể hiện bản chất của chính sách công, có thể tóm lược một số đặc trung của chính sách công như sau:  Có một cấp thẩm quyền ban hành  Mang lợi ích công  Mọi người đều có quyền tiếp cận (công khai, minh bạch)  Nhìn chung là bắt buộc thi hành (tuy nhiên cũng có những hình thức không mang tính bắt buộc, thường là các chính sách khuyến khích, hỗ trợ)  Thường thể hiện dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật, liên quan đến nhau và mang tính hành động, tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo những mục tiêu xác định. Như vậy:“Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công còn mới mẻ, thông thường chúng ta quen dùng cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của nhà nước hoặc chính sách của Đảng và Nhà nước, vì ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.

Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra đường lối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, về thực chất, các chính sách công là do Nhà ban hành nhưng các chính sách này chính là cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta. Từ góc độ chủ thể hoạch định chính sách giữa Đảng và Nhà nước mà có các thuật ngữ: Đường lối chính sách, Chủ trương chính sách, Cơ chế chính sách, Chế độ chính sách. Truyền thông chính sách Truyền thông chính sách là quá trình quảng bá, phổ biến, thông tin vềchính sách đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông nhằm lan tỏa những chính sách của các cơ quan ban hành chính sách đến với quảng đại quần chúng.

Ở nước ta, truyền thông chính sách hướng tới mục tiêu giúp người dân có thể thực hiện được vai trò “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhờ vậy, quyền tiếp cận thông tin của người dân được đảm bảo, đồng thời, trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền cũng được nâng cao. Trên thực tế, truyền thông tham gia vào tất cả các khâu trong quy trình chính sách từ lên kế hoạch, hoạch định, xây dựng, thực thi đến phân tích và điều chỉnh chính sách. Truyền thông chính sách là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách để đạt mục tiêu chính sách.Từ đó, xem xét các biến số về nội dung truyền thông, phương tiện truyền thông, phương pháp truyền thông, tần suất truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông ảnh hưởng như thế nào đến mỗi khâu của chu trình chính sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Truyền Thông Chính Sách Giáo Dục Trên Báo Chí Giai Đoạn 2016-2017" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của truyền thông trong việc định hình chính sách giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn này. Tài liệu phân tích cách mà các phương tiện truyền thông đã ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về giáo dục, đồng thời nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc truyền tải thông tin chính sách đến người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức truyền thông có thể cải thiện sự tham gia của cộng đồng vào các vấn đề giáo dục, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn báo chí học báo in giáo dục hướng nghiệp, nơi khám phá vai trò của báo chí trong giáo dục nghề nghiệp, hay Luận văn thạc sĩ vai trò của báo chí ngành giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của báo chí trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ luật học giáo dục pháp luật qua hoạt động báo chí, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của báo chí trong việc giáo dục pháp luật cho cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong giáo dục và chính sách tại Việt Nam.