Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Giai đoạn 2016 - 2017 ghi nhận bước chuyển mình lịch sử của ngành giáo dục Việt Nam với hàng loạt quyết sách mang tính đột phá nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc ban hành chính sách và mức độ đồng thuận xã hội vẫn là một thách thức lớn. Nhiều chính sách cải cách khi đưa vào thực tiễn đã vấp phải những luồng dư luận trái chiều do thiếu sự đồng bộ trong công tác thông tin, giải thích và định hướng của các cơ quan truyền thông.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá thực trạng truyền thông chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí của ngành, chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các hạn chế mang tính hệ thống. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông chính sách công; khảo sát toàn diện tần suất, nội dung và hình thức chuyển tải thông điệp trên các ấn phẩm đại diện; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông giai đoạn tiếp theo.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian truyền thông giai đoạn 2016 - 2017 đối với 5 chính sách then chốt: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tự chủ đại học theo Nghị quyết số 77/NQ-CP, đổi mới kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia, đổi mới đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT và tinh giản biên chế ngành giáo dục. Không gian khảo sát bao gồm 5 cơ quan báo chí chủ lực: Báo Giáo dục và Thời đại (bản in và báo điện tử), Tạp chí Giáo dục, Báo điện tử Dân trí và Báo điện tử Giáo dục Việt Nam. Luận văn đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao chỉ số tiếp cận thông tin, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ đồng thuận xã hội đối với các chính sách giáo dục đạt trên 80%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết truyền thông kinh điển:

Thứ nhất là lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-setting Theory) do Maxwell McCombs và Donald Shaw khởi xướng. Lý thuyết chỉ ra rằng báo chí không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn định hướng cho công chúng biết vấn đề gì cần suy nghĩ (What to think about) và định hình cách thức công chúng tư duy về vấn đề đó (How to think). Trong truyền thông chính sách, việc sắp đặt vị trí tin bài, lựa chọn góc nhìn và tần suất đưa tin của cơ quan báo chí trực tiếp tác động đến mức độ ưu tiên của dư luận đối với từng chính sách cụ thể.

Thứ hai là lý thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications Theory) gắn liền với tên tuổi của Elihu Katz và Ikuo Takeuchi. Mô hình giải thích hành vi tiếp nhận thông tin của công chúng dựa trên chuỗi nhân quả: nhân tố xã hội và tâm lý tạo ra kỳ vọng truyền thông, từ đó dẫn tới hành vi tiếp xúc và mức độ nhu cầu được thỏa mãn. Lý thuyết này cho phép đánh giá xem thông điệp chính sách từ cơ quan quản lý đã thực sự đáp ứng đúng nhu cầu thông tin đa chiều của giáo viên, phụ huynh và học sinh hay chưa.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các khái niệm cốt lõi: Truyền thông chính sách, Chính sách công, Giáo dục và Đào tạo, cùng khái niệm Văn hóa tham gia (Participatory culture) của Henry Jenkins nhằm phân tích sự tương tác hai chiều giữa tòa soạn và công chúng trên môi trường báo chí số.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt các phương pháp định tính và định lượng để xử lý dữ liệu thực nghiệm:

Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Khảo sát toàn diện hơn 1.800 tin bài xuất bản trong 2 năm 2016 và 2017 liên quan đến 5 chính sách giáo dục trọng điểm trên 5 cơ quan báo chí khảo sát. Trong đó, Báo điện tử Dân trí với lượng truy cập trên 10 triệu lượt mỗi ngày đóng vai trò nguồn dữ liệu đối chứng quan trọng cho các cơ quan ngôn luận trực thuộc Bộ.

Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm kết hợp chọn mẫu có chủ đích. Mẫu khảo sát được phân loại theo 5 chủ đề chính sách lớn và phân tách theo các thể loại báo chí cụ thể (bản tin, bài phản ánh, phỏng vấn, bài phân tích chuyên sâu). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho bức tranh truyền thông chính sách của ngành, tránh sự phân tán dữ liệu vào các sự vụ nhỏ lẻ.

Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) và phân tích thông điệp truyền thông nhằm giải mã cấu trúc bài viết, nguồn trích dẫn và lập trường phản biện. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp với 15 nhà báo chuyên trách giáo dục, các chuyên gia quản lý chính sách và đại diện độc giả tiếp nhận thông tin để làm sâu sắc thêm các luận cứ khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên hơn 1.800 tác phẩm báo chí giai đoạn 2016 - 2017 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn về tần suất và cường độ truyền thông giữa các cơ quan báo chí. Báo điện tử Dân trí dẫn đầu về mật độ phủ sóng với tỷ lệ trung bình đạt 0.8 bài/ngày về các chính sách giáo dục. Đối với chính sách Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Dân trí xuất bản 160 bài và Giáo dục Việt Nam xuất bản 155 bài, cao hơn đáng kể so với Báo Giáo dục và Thời đại bản điện tử (141 bài) và bản in (130 bài). Tạp chí Giáo dục do đặc thù xuất bản định kỳ 2 số/tháng và 1 số đặc biệt nên chỉ ghi nhận 44 bài viết về chủ đề này.

Thứ hai, tốc độ phản ứng truyền thông của báo chí trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước còn chậm. Điển hình vào ngày 12/04/2017, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Báo Dân trí và Báo Giáo dục Việt Nam đã đăng tải ngay trong ngày với nhiều tuyến bài phân tích chuyên sâu. Trong khi đó, Báo Giáo dục và Thời đại mất 1 ngày sau mới có bài viết, và Tạp chí Giáo dục phải đến ngày 01/08/2017 (chậm gần 4 tháng) mới có bài viết phản ánh chính thức.

Thứ ba, cơ cấu thể loại báo chí có sự mất cân đối nghiêm trọng. Khoảng 85% tổng số tác phẩm là các bài phản ánh đơn thuần và trích dẫn văn bản quy phạm pháp luật; 15% còn lại phân bổ cho thể loại tin vắn và phỏng vấn. Tác phẩm phân tích, bình luận chuyên sâu, mang tính gợi mở hoặc phản biện chính sách chiếm tỷ lệ dưới 2% trên hệ thống báo chí của ngành.

Thứ tư, đối với chính sách tự chủ đại học theo Nghị quyết số 77/NQ-CP (áp dụng thí điểm cho 23 trường đại học công lập), Báo Giáo dục và Thời đại điện tử có số lượng bài viết lớn nhất (135 bài). Tuy nhiên, nội dung tuyên truyền mang tính một chiều, chủ yếu khẳng định mặt tích cực mà thiếu vắng các bài viết phản ánh vướng mắc về hành lang pháp lý, tài chính hoặc sự chồng chéo giữa Luật Giáo dục đại học 2012 với các quy định liên quan. Ngược lại, Dân trí (139 bài) và Giáo dục Việt Nam (136 bài) khai thác nhiều góc nhìn đa chiều từ các chuyên gia độc lập.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý thông tin còn mang nặng tính hành chính tại các đơn vị báo chí trực thuộc Bộ. Quy trình kiểm duyệt nhiều tầng khiến tốc độ xuất bản giảm sút, làm mất đi thời điểm vàng trong việc dẫn dắt dư luận xã hội. Các tòa soạn báo ngành có xu hướng đưa nguyên văn các thông tư, quyết định mà chưa chuyển hóa thành ngôn ngữ báo chí gần gũi, sinh động.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với mô hình Mã hóa và Giải mã của Stuart Hall. Khi cơ quan ban hành thực hiện mã hóa thông điệp bằng văn bản quản lý khô cứng, công chúng gặp khó khăn trong việc giải mã, dẫn đến tình trạng hiểu sai lệch bản chất cải cách. Đồng thời, dưới góc nhìn của lý thuyết Sử dụng và Hài lòng, việc các cơ quan báo chí của ngành chỉ cung cấp thông tin một chiều đã không thỏa mãn được nhu cầu tiếp cận dữ liệu phản biện của độc giả trí thức và đội ngũ giáo viên.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tần suất xuất bản theo tháng của 5 tờ báo, kết hợp biểu đồ tròn mô tả tỷ trọng thể loại báo chí (85% phản ánh so với 15% phỏng vấn/tin). Ngoài ra, một bảng ma trận đối chiếu tốc độ đưa tin trong ngày công bố chính sách sẽ làm nổi bật sự vượt trội về tính tức thời của báo chí hội nhập so với báo in truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng truyền thông chính sách giáo dục trong giai đoạn đổi mới tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình xuất bản và phát ngôn báo chí. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng ban biên tập Báo Giáo dục và Thời đại cần thiết lập cơ chế phản ứng nhanh, đảm bảo thông tin chính sách được chuyển thể thành các gói dữ liệu báo chí trong vòng tối đa 6 giờ kể từ khi ban hành văn bản. Thời gian thực hiện từ quý I năm 2018 đến hết năm 2019, hướng tới mục tiêu rút ngắn 50% độ trễ truyền thông so với giai đoạn trước.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu thể loại và đa dạng hóa góc nhìn phản biện. Ban biên tập các báo, tạp chí ngành giáo dục cần chủ động giảm tỷ lệ bài phản ánh hành chính từ 85% xuống mức 50%, đồng thời nâng tỷ trọng các bài xã luận, phân tích chuyên sâu và đối thoại chính sách lên ít nhất 30% tổng dung lượng bài viết. Lộ trình triển khai liên tục trong giai đoạn 2018 - 2020 dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của các chuyên gia báo chí hàng đầu.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng mô hình tòa soạn hội tụ và truyền thông đa phương tiện. Đội ngũ sản xuất nội dung số tại Báo Giáo dục và Thời đại điện tử cần tích hợp đồ họa thông tin (infographic), video phân tích ngắn và xây dựng diễn đàn đối thoại trực tuyến ngay dưới mỗi bài viết về dự thảo luật. Mục tiêu đặt ra là gia tăng 40% lượng tương tác thực chất của độc giả trong vòng 12 tháng kể từ khi áp dụng.

Thứ tư, tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích chính sách công cho đội ngũ phóng viên. Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Cục Báo chí và Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức các khóa tập huấn định kỳ hằng năm, nhằm chuẩn hóa năng lực phản biện và kiến thức pháp lý giáo dục cho 100% phóng viên theo dõi mảng giáo dục đào tạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ phụ trách truyền thông tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở Giáo dục và Đào tạo trên toàn quốc. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn giúp xây dựng kế hoạch truyền thông đồng bộ ngay từ khâu soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, tránh khủng hoảng truyền thông khi công bố chính sách mới.

Nhóm thứ hai là ban biên tập, phóng viên và biên tập viên tại các cơ quan báo chí ngành giáo dục và các cơ quan báo chí truyền thông đại chúng. Dữ liệu khảo sát giúp các nhà báo nhận diện điểm nghẽn trong khâu sản xuất nội dung, từ đó đổi mới phương thức viết tin bài chính sách từ lối mòn tuyên truyền sang tương tác, giải thích và phản biện đa chiều.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Quản lý công và Giáo dục học. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chất lượng về phương pháp phân tích nội dung truyền thông và vận dụng các lý thuyết Agenda-setting, Uses and Gratifications vào thực tiễn Việt Nam.

Nhóm thứ tư là lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học và các trường phổ thông. Tài liệu hỗ trợ các nhà quản trị trường học xây dựng chiến lược truyền thông nội bộ hiệu quả khi triển khai các chính sách tự chủ đại học và chương trình đổi mới sách giáo khoa.

Câu hỏi thường gặp

Truyền thông chính sách giáo dục giai đoạn 2016 - 2017 có tính cấp bách như thế nào? Đây là giai đoạn bản lề khi hàng loạt chính sách cốt lõi của Nghị quyết số 29-NQ/TW được triển khai thực nghiệm như Thông tư 22, tự chủ 23 trường đại học và dự thảo Chương trình phổ thông tổng thể. Truyền thông kịp thời là yếu tố quyết định để tạo đồng thuận xã hội và giảm thiểu xung đột nhận thức giữa cơ quan quản lý với nhân dân.

Đâu là điểm khác biệt lớn nhất giữa Báo Giáo dục và Thời đại và Báo Dân trí khi đưa tin chính sách? Báo Giáo dục và Thời đại tập trung trích dẫn đầy đủ văn bản pháp lý nhưng thiếu tính phản biện và có độ trễ thông tin từ 1 đến 2 ngày. Ngược lại, Dân trí với lượng truy cập trên 10 triệu lượt mỗi ngày có tốc độ đưa tin tức thời, góc nhìn đa chiều từ dư luận và bài viết mang tính định hướng xã hội cao hơn.

Tỷ lệ 85% bài phản ánh trên báo chí ngành giáo dục phản ánh thực trạng gì? Con số này chỉ ra sự thiên lệch lớn về mặt thể loại, thể hiện phong cách làm báo nặng về thông báo sự vụ và tuyên truyền một chiều. Hệ thống báo chí ngành thiếu vắng các bài phân tích chuyên sâu, xã luận mang tính gợi mở, dẫn đến việc chưa giải đáp thỏa đáng các băn khoăn của xã hội về chính sách.

Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự được vận dụng như thế nào trong đề tài? Lý thuyết Agenda-setting được sử dụng để phân tích cách thức các tờ báo lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các chủ đề giáo dục trọng điểm. Báo chí định hướng công chúng nhận diện tầm quan trọng của đổi mới giáo dục thông qua vị trí trang bìa, tiêu điểm trực tuyến và tần suất tin bài hằng ngày.

Luận văn chỉ ra khó khăn gì lớn nhất trong truyền thông chính sách tự chủ đại học? Khó khăn lớn nhất là thông tin tuyên truyền chưa đồng bộ với hành lang pháp lý thực tế. Báo chí ngành chủ yếu ca ngợi quyền tự quyết của 23 trường thí điểm nhưng chưa phân tích sâu những rào cản về cơ chế tài chính, biên chế và quy định của Luật Giáo dục đại học, gây tâm lý lúng túng cho các cơ sở đào tạo.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với 5 đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về truyền thông chính sách công gắn liền với đặc thù của hệ thống báo chí ngành giáo dục.
  • Cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng quy mô lớn thông qua khảo sát hơn 1.800 tin bài tại 5 cơ quan báo chí tiêu biểu trong 2 năm 2016 và 2017.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi trong công tác truyền thông của báo chí ngành là cơ cấu thể loại đơn điệu với 85% bài phản ánh và độ trễ xuất bản thông tin.
  • Khẳng định tính tương thích và giá trị thực tiễn của lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự cùng lý thuyết Sử dụng và Hài lòng trong đo lường hiệu quả truyền thông.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, phân định rõ lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm tối ưu hóa quy trình truyền thông chính sách.

Các cơ quan quản lý và các tòa soạn cần nhanh chóng ứng dụng kết quả nghiên cứu để đổi mới toàn diện mô hình truyền thông chính sách giáo dục, góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững.