Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, công tác phổ biến và giáo dục pháp luật giữ vai trò then chốt nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân. Thực tiễn giai đoạn 1997 - 2002 ghi nhận những diễn biến phức tạp của tình hình vi phạm pháp luật với tính chất ngày càng tinh vi, đòi hỏi các cơ quan quản lý phải đổi mới phương thức truyền thông chính sách. Báo chí với vị thế là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đã trở thành cầu nối trực tiếp giữa cơ quan lập pháp, hành pháp với quần chúng nhân dân.

Đề tài tập trung giải quyết bài toán đánh giá năng lực thực tiễn và hiệu quả tác động của các cơ quan báo chí đối với việc truyền tải hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật qua báo chí; khảo sát toàn diện thực trạng phát hành, đăng tải văn bản của hệ thống báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử; chỉ ra những rào cản kỹ thuật, cơ chế phối hợp; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông pháp luật trong giai đoạn mới.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập trong khung thời gian 5 năm (1997 - 2002) trên phạm vi toàn quốc, tập trung khảo sát 2.551 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ cấp Trung ương và hệ thống hơn 486 cơ quan báo chí với 606 ấn phẩm. Về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn, luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác, hỗ trợ các nhà hoạch định chiến lược tại các bộ, ngành nâng cao tỷ lệ tiếp cận thông tin pháp luật của người dân lên mức trên 80%, giảm thiểu tình trạng thiếu hụt văn bản chỉ đạo tại các cấp chính quyền cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, kết hợp lý thuyết truyền thông đại chúng trong quản lý xã hội. Các lý thuyết này khẳng định nhận thức của con người chịu sự chi phối trực tiếp từ hoàn cảnh thực tiễn và sự tác động có định hướng của công tác giáo dục tư tưởng. Trong đó, 4 khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm:

  • Giáo dục pháp luật: Hoạt động có chủ đích của chủ thể quản lý sử dụng các phương tiện kỹ thuật và kênh thông tin nhằm cung cấp tri thức pháp lý liên tục, định hình ý thức và thói quen xử sự hợp pháp cho công chúng.
  • Hoạt động báo chí: Quá trình sáng tạo, sản xuất và phát hành các ấn phẩm báo in, chương trình phát thanh, truyền hình và báo điện tử theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật Báo chí sửa đổi năm 1999.
  • Ý thức pháp luật: Tập hợp những quan điểm, tư tưởng, cảm xúc và đánh giá của cá nhân hoặc cộng đồng về tính hợp hiến, hợp pháp của các hành vi xã hội.
  • Hiệu quả pháp luật: Mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội định trước của quy phạm pháp luật với chi phí nguồn lực tối ưu nhất.

Nghiên cứu vận dụng quy định tại Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp năm 1992 để xác định thẩm quyền của Chính phủ trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, đồng thời liên kết chặt chẽ với cơ chế điều chỉnh hành vi của 10.294 nhà báo đang hoạt động trong hệ thống truyền thông quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống lưu trữ của Thư viện Quốc gia Việt Nam, Cục Báo chí, Văn phòng Chính phủ và Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2002. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Toàn bộ 2.551 văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Tờ Công báo từ năm 1997 đến năm 2001 (gồm 36 Luật, 39 Pháp lệnh, 486 Nghị định, 925 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 143 Chỉ thị và 924 Thông tư liên tịch).
  • Khảo sát 19.092 số báo lưu chiểu của 17 đầu báo tiêu biểu đại diện cho khối Trung ương, địa phương, chuyên ngành và đoàn thể.
  • Đánh giá chuyên sâu 878 văn bản quy phạm pháp luật trọng điểm do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành đối chiếu trên 4 nhật báo lớn trong 3 năm (1997, 1999, 2000).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm phân tách rõ rệt giữa nhóm báo chính trị - xã hội tổng hợp, báo chuyên ngành pháp luật và báo địa phương. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh đối chiếu định lượng là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ dung lượng thông tin pháp luật trên từng mặt báo, từ đó tìm ra khoảng cách giữa tần suất ban hành văn bản của Nhà nước và mức độ tiếp nhận thực tế của độc giả.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện thực tiễn quan trọng về bức tranh truyền thông pháp luật tại Việt Nam:

Thứ nhất, Tờ Công báo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã phát huy vai trò nguồn tin pháp lý gốc với sự tăng trưởng vượt bậc về tần suất và quy mô phát hành. Tần suất xuất bản đã nâng từ 2 kỳ/tháng (trước năm 1997) lên 3 kỳ/tháng (năm 1998) và đạt 4 kỳ/tháng từ năm 1999. Số lượng phát hành tăng từ 28.000 bản/số (năm 1998) lên trên 41.000 bản/số (năm 2000), trong đó dành 10.500 bản cấp phát miễn phí cho toàn bộ hệ thống xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 69/1998/QĐ-TTg.

Thứ hai, mức độ phủ sóng văn bản quy phạm pháp luật trên các cơ quan báo in hàng ngày có sự phân hóa rõ rệt qua khảo sát 878 văn bản giai đoạn 1997 - 2000:

  • Báo Nhân Dân dẫn đầu với 508 văn bản được đăng tải, đạt tỷ lệ 57,9% (năm 1997 đạt 65,4%, năm 1999 đạt 55,1%, năm 2000 đạt 53,6%).
  • Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng tải 323 văn bản, đạt tỷ lệ 36,7% (tăng đều từ 33,1% năm 1997 lên 43,3% năm 2000).
  • Báo Quân Đội Nhân Dân đăng tải 229 văn bản, đạt tỷ lệ 26,1% (năm 1997 đạt 43,5%, năm 2000 đạt 18,7%).
  • Báo Hà Nội Mới đăng tải 227 văn bản, đạt tỷ lệ 25,8% (năm 1997 đạt 32,7%, năm 2000 đạt 27,2%).

Thứ ba, sự hình thành và mở rộng của các phương tiện nghe nhìn và chuyên ngành tạo bước chuyển dịch mạnh mẽ trong nhận thức của công chúng. Khảo sát xã hội học cho thấy mức độ độc giả theo dõi thông tin pháp luật qua các ấn phẩm chuyên ngành đạt tỷ lệ rất cao: Báo Pháp luật và Đời sống đạt 70,1%, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đạt 66,6%. Đài Tiếng nói Việt Nam vươn cánh sóng tới 70 quốc gia với 452 chương trình phát thanh mỗi ngày (172 giờ phát sóng bằng 11 thứ tiếng nước ngoài và 8 thứ tiếng dân tộc thiểu số), trong khi Đài Truyền hình Việt Nam phủ sóng tới hơn 80% dân số cả nước.

Thứ tư, công tác phát hành báo chí về vùng sâu, vùng xa bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng về tài chính và hạ tầng. Tại tỉnh Thanh Hóa, có 149 trên tổng số 629 xã hoàn toàn không có báo (trong đó 6% số xã thiếu Báo Nhân Dân, 18% thiếu Báo Thanh Hóa) với khoản nợ cước bưu điện lên tới 252 triệu đồng. Tương tự, tại tỉnh Hà Giang, có 489 trên tổng số 1.491 chi bộ, đảng bộ cơ sở không được tiếp cận báo chí định kỳ.

Thảo luận kết quả

Các số liệu khảo sát khi được tổng hợp vào bảng đối sánh tỷ lệ đăng tải và biểu đồ cột biến thiên giai đoạn 1997 - 2000 làm nổi bật xu hướng chuyển dịch của báo chí cách mạng. Trước năm 1986, thông tin pháp luật mang tính chất một chiều và mệnh lệnh hành chính thuần túy. Giai đoạn 1997 - 2002 đã chuyển hóa mạnh mẽ sang cơ chế thông tin đa chiều có định hướng, trong đó báo chí vừa là kênh hướng dẫn áp dụng pháp luật, vừa đóng vai trò diễn đàn phản biện xã hội và phát hiện những lỗ hổng pháp lý (như các bất cập trong quản lý công nghệ thông tin hay thị trường chứng khoán thời kỳ đầu).

Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm tỷ lệ đăng tải văn bản toàn văn trên Báo Nhân Dân (từ 65,4% xuống 53,6%) và Báo Quân Đội Nhân Dân (từ 43,5% xuống 18,7%) là do báo chí chuyển trọng tâm từ việc trích đăng thô các điều luật sang các thể loại bài phân tích, bình luận chuyên sâu, phóng sự điều tra và giải đáp trợ giúp pháp lý. Hạn chế lớn nhất trong giai đoạn này là sự vắng bóng của phiên bản Công báo điện tử trực tuyến, khiến các cơ quan báo chí không chuyên ngành gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn văn bản chính thống trong thời gian dưới 48 giờ sau khi ký ban hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả giáo dục pháp luật qua báo chí:

  1. Xây dựng và vận hành Cổng thông tin Công báo điện tử quốc gia: Văn phòng Chính phủ chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu luật trực tuyến trong giai đoạn 2003 - 2005. Mục tiêu đặt ra là rút ngắn thời gian cập nhật văn bản từ 15 ngày xuống dưới 24 giờ kể từ khi Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, đảm bảo cung cấp miễn phí nguồn tin chuẩn xác cho 100% cơ quan báo chí khai thác.
  2. Củng cố chính sách hỗ trợ phát hành báo chí tới vùng khó khăn: Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin duy trì và nâng mức trợ cấp cước vận chuyển sách báo (theo tinh thần Công văn số 6516/KTTH ngày 19/12/1997) từ 50% lên 70% đối với các tỉnh miền núi, biên giới và hải đảo. Phấn đấu đến hết năm 2005 xóa bỏ 100% tình trạng xã trắng báo chí, bảo đảm mỗi chi bộ cơ sở đều có ít nhất 1 ấn phẩm Báo Nhân Dân và 1 ấn phẩm báo Đảng địa phương.
  3. Chuẩn hóa chương trình đào tạo kiến thức pháp lý cho người làm báo: Hội Nhà báo Việt Nam liên kết với Trường Đại học Luật Hà Nội triển khai các khóa bồi dưỡng định kỳ kỹ năng viết báo pháp luật cho 10.294 nhà báo đã được cấp thẻ. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phóng viên chuyên trách mảng nội chính - pháp luật có trình độ cử nhân luật hoặc chứng chỉ tư pháp đạt trên 60% vào năm 2006.
  4. Tăng cường thời lượng và đổi mới format truyền thông đa phương tiện: Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam mở rộng khung giờ phát sóng các chương trình tòa tuyên án, diễn đàn công dân và giải đáp pháp luật từ 45 giờ/ngày lên 60 giờ/ngày trên toàn hệ thống các kênh VTV1, VTV2, VTV4; đồng thời đẩy mạnh sản xuất các tiểu phẩm pháp luật bằng 8 thứ tiếng dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách: Các chuyên viên, lãnh đạo thuộc Vụ Báo chí - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Tư pháp, Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Chính phủ cần dữ liệu thực chứng để hoạch định chiến lược thông tin pháp luật và hoàn thiện quy chế phát ngôn báo chí.
  • Lãnh đạo các cơ quan báo chí, tổng biên tập và biên tập viên: Ban biên tập các cơ quan báo in, đài phát thanh - truyền hình cần khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng chuyên trang, chuyên mục pháp lý, cân đối tỷ lệ giữa tin bài thời sự và bài viết hướng dẫn áp dụng pháp luật.
  • Đội ngũ phóng viên, nhà báo chuyên trách mảng pháp luật - nội chính: Người làm báo tiếp cận các phương pháp điều tra báo chí đúng luật, kỹ năng chuyển hóa thuật ngữ pháp lý phức tạp thành ngôn ngữ đại chúng, hạn chế sai sót nghiệp vụ khi đưa tin xét xử.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Luật và Báo chí: Tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ tương tác giữa khoa học pháp lý và lý luận báo chí truyền thông, cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử chuẩn xác cho các khóa luận, luận văn chuyên ngành Luật Hành chính - Nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn giải quyết khoảng trống nghiên cứu nào trong giai đoạn 1997 - 2002?
Trước năm 2003, các công trình học thuật chủ yếu nghiên cứu giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp hoặc trường học. Đây là công trình đầu tiên khảo sát định lượng toàn diện hệ thống báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử với cỡ mẫu 19.092 ấn phẩm để đánh giá kênh truyền thông báo chí.

Tỷ lệ đăng tải văn bản pháp luật của các nhật báo lớn đạt mức bao nhiêu?
Trong giai đoạn 1997 - 2000, tỷ lệ đăng tải trên tổng số 878 văn bản quy phạm pháp luật trọng điểm lần lượt là: Báo Nhân Dân đạt 57,9% (508 văn bản), Báo Sài Gòn Giải Phóng đạt 36,7% (323 văn bản), Báo Quân Đội Nhân Dân đạt 26,1% (229 văn bản), Báo Hà Nội Mới đạt 25,8% (227 văn bản).

Phương thức truyền thông pháp luật trên báo nói và báo hình có ưu thế gì?
Hệ thống phát thanh đạt diện phủ sóng trên 70% dân số với 750 phút phát sóng tiếng dân tộc mỗi ngày; hệ thống truyền hình phủ sóng trên 80% dân số cả nước với thời lượng 41 - 45 giờ/ngày, giúp truyền tải trực quan các phiên tòa và giải đáp trực tiếp cho người dân vùng sâu, vùng xa.

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác phát hành báo chí pháp luật tại địa phương là gì?
Tình trạng thiếu kinh phí đặt mua báo tại cấp cơ sở diễn ra phổ biến, ví dụ như 149/629 xã tại Thanh Hóa không có báo, các huyện nợ đọng bưu điện 252 triệu đồng; tỉnh Hà Giang có tới 489/1.491 chi bộ không có báo Đảng để sinh hoạt chính trị và cập nhật chính sách.

Luận văn kiến nghị giải pháp then chốt nào để nâng cao tính kịp thời của thông tin pháp lý?
Luận văn đề xuất Chính phủ phải nhanh chóng triển khai Tờ Công báo điện tử trên mạng Internet, số hóa toàn bộ 100% văn bản quy phạm pháp luật Trung ương ban hành nhằm cung cấp dữ liệu tức thời, chính xác cho hơn 10.294 nhà báo và toàn thể người dân.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật qua báo chí, khẳng định báo chí là phương tiện thiết yếu trong việc định hình văn hóa pháp lý và lối sống tuân thủ pháp luật của công dân.
  • Khảo sát thực nghiệm công phu trên 2.551 văn bản quy phạm pháp luật của Tờ Công báo và 19.092 ấn phẩm báo chí lưu chiểu quốc gia giai đoạn 1997 - 2002, cung cấp bức tranh định lượng chân thực về thực trạng truyền thông chính sách.
  • Xác định rõ nét sự dịch chuyển từ phương thức tuyên truyền một chiều sang cơ chế phản biện xã hội hai chiều, kết hợp giữa việc phổ biến văn bản với hoạt động giám sát thi hành và đấu tranh chống tiêu cực.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, trọng tâm là xây dựng Công báo điện tử, nâng mức trợ cấp cước phát hành báo chí vùng sâu lên 70% và chuẩn hóa năng lực pháp lý cho đội ngũ 10.294 nhà báo.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về ứng dụng báo điện tử đa phương tiện và công nghệ thông tin trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.