mở đầu thế kỷ 21 ở Việt Nam, khẳng định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hoạch định chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4.2006) đƣợc đánh giá là đại hội của trí tuệ, đổi mới và đoàn kết. Đại hội đã khẳng định mục tiêu bao trùm: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cộc đổi mới, sớm đƣa nƣớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” [7, 3] Tổng kết lại quá trình 20 năm đổi mới chúng ta thấy rõ: đƣờng lối đổi mới không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một quá trình tìm tòi, thử nghiệm; thông qua những trăn trở, đấu tranh gian khổ về tƣ duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn kết hợp với vận dụng lý luận, tạo ra những đột phá quan trọng.
Đó là quá trình sáng tạo từng bƣớc từ thấp lên cao, từ đổi mới bộ phận đến đổi mới căn bản, từ đổi mới từng mặt đến đổi mới toàn diện. Thế giới đang bƣớc vào giai đoạn toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Nguyên lý phát triển trong thời đại mới đang thay đổi căn bản. Nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới nghĩa là Việt Nam phải thực hiện bƣớc chuyển kép chƣa từng có trong lịch sử: vƣợt bỏ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, đồng thời phải xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển lên nền công nghiệp đại và phát triển kinh tế thị trƣờng, tháo dỡ các rào cản tự túc, tự cấp để mở cửa và hội nhập vào thế giới.
Đó là những nhiệm vụ “động trời”, mang tầm lịch sử - thời đại. Với lợi thế của một nƣớc nghèo (chi phí nhân công rẻ, môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn, nguồn lao động dồi dào….) chúng ta có thể “đi tắt đón đầu” nhƣ cách thức mà Singapore hay 14 z Hàn Quốc đang thực hiện, có nhƣ vậy mới có thể tiếp kịp các nƣớc phát triển trong khu vực. Kết quả đổi mới – Nhìn từ đỉnh cao 2001-2005. Giai đoạn 2001-2005 đƣợc xem là đỉnh cao của tiến trình đổi mới, mặc dù trong giai đoạn này đất nƣớc phải đối mặt với những khó khăn khách quan lẫn chủ quan.
Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Xung đột sắc tộc, tôn giáo và lợi ích của các quốc gia vẫn là bài toán chƣa có lời giải đáp. Những biến động thất thƣờng của giá xăng dầu và năng lƣợng, dịch cúm gia cầm trong nƣớc và thiên tai; Tệ nạn tham nhũng và những yếu kém trong công tác quản lý chƣa đƣợc giải quyết rốt ráo… Tuy vậy, tăng trƣởng GDP toàn xã hội của thời kỳ này vẫn duy trì đều qua các năm, bình quân đạt 7,5% (mặc dù thấp hơn giai đoạn tăng trƣởng nóng 1991-1995, 8,2%) nhƣng chúng ta đã đạt đƣợc tiến bộ đều và bền vững trên mọi lĩnh vực. Nhìn lại xuyên suốt quá trình 20 năm đổi mới, chúng ta dễ dàng nhận thấy, nếu giai đoạn 1986-1990, là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới với chủ trƣơng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, bƣớc đầu giải phóng lực lƣợng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới thì giai đoạn 1991-1995 (ĐH VII) đất nƣớc ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái.
Toàn Đảng toàn dân ta tiếp tục bắt tay vào thực hiện chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế -xã hội 10 năm (1991-2000) với quyết tâm: “ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vƣợt qua tình trạng nƣớc nghèo và kém phát triển”. Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trƣởng cao (GDP bình quân đạt 8,2%), đặc biệt ngành dịch vụ có tốc độ tăng trƣởng 12%. Giai đoạn 1996-2000 tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH và giai đoạn 2001- 2005 chúng ta đã vƣợt qua tình trạng nƣớc nghèo, kém phát triển. 15 z “Trong 5 năm (2001-2005), tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) tăng bình quân 7,51%/năm.
Trong đó nông nghiệp tăng 3,8%, công nghiệp tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%. GDP bình quân đầu ngƣời khoảng 10 triệu đồng (năm 2005 là 640 USD), vƣợt mức bình quân của các nƣớc phát triển có thu nhập thấp (500 USD). Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 16%/năm, trong đó công nghiệp nhà nƣớc tăng khoảng 12,1%, công nghiệp ngoài nhà nƣớc tăng 21,8%/năm, công nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng 15,3%. Đến thời điểm năm 2005, cả nƣớc đã có 100 khu công nghiệp, khu chế xuất.
Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, nông lâm, ngƣ nghiệp tăng 5,5%. An ninh lƣơng thực quốc gia đƣợc đảm bảo. Đến năm 2005, hầu hết các xã đã có điện thoại, 83% số xã trong toàn quốc có điểm bƣu điện văn hóa xã; 3,2 triệu thuê bao internet. Mật độ điện thoại đạt 19 máy/100 dân” [8, 3].
Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có nhiều bƣớc tiến mới. Quan hệ kinh tế giữa nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới đƣợc mở rộng. Việc thực hiện các cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ, gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phƣơng, song phƣơng khác… đã góp phần tạo ra bƣớc phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu. Giáo dục và đào tạo có bƣớc phát triển khá.
Đến hết năm 2005 đã có 31 tỉnh thành đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS. Quy mô giáo dục tiếp tục đƣợc mở rộng và trình dộ dân trí ngày càng đƣợc nâng lên rõ rệt. Khoa học và công nghệ có nhiều tiến bộ. Bƣớc đầu đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hóa phƣơng thức giao nhiệm vụ nghiên cứu nhƣ đấu thầu cạnh tranh hoặc hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứu ứng dụng cho các doanh nghiệp.
Tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ trong nƣớc đã có bƣớc phát triển, hoạt động KHCN đƣợc mở rộng và nâng cao hiệu quả. Văn hóa xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn kết giữa phát 16 z triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tích cực, chỉ số phát triển con ngƣời đƣợc nâng lên. Thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên trên 10 triệu đồng năm 2005, tăng 12,1%/năm và chỉ số phát triển con ngƣời là 0,704 (xếp thứ 108/177 nƣớc)”. Đó là những kết quả thắng lợi hết sức quan trọng, đƣợc xem là đỉnh cao của 20 năm đổi mới.
Điều này thể hiện sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; sự chỉ đao điều hành có hiệu quả của Chính phủ; sự năng động và quyết tâm của các cấp, ngành, các doanh nghiệp và của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên chất lƣợng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém. Báo cáo Cạnh tranh kinh tế toàn cầu của diễn đàn kinh tế thế giới 2005 cho biết: Chỉ số cạnh tranh toàn cầu của nƣớc ta xếp thứ 77/104 nƣớc, trong đó cạnh tranh về môi trƣờng kinh tế vĩ mô xếp thứ 58/104, thể chế công xếp thứ 82/104, công nghệ xếp thứ 92/104; chỉ số cạnh tranh về kinh doanh xếp thứ 90/104. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, năm 2004, tỉ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam là 38%, của Philipine là 54%, của Thái Lan là 46%. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển. Chất lƣợng giáo dục đào tạo (GD&ĐT) và khoa học công nghệ (KHCN) còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm đƣợc khắc phục. Bộ máy nhà nƣớc chậm đổi mới, chƣa theo kịp yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Tất nhiên, đứng trƣớc những thách thức to lớn của thời đại, trong thế giới toàn cầu hóa với những diễn biến phức tạp và khó tiên định, ngƣời dân vẫn đang tiếp tục kỳ vọng vào sự bứt phá đi lên của đất nƣớc trên mọi lĩnh vực. Các biểu đồ dƣới đây chúng tôi xác lập dựa trên số liệu báo cáo trong văn kiện Nghị quyết đại hội X của Đảng] 2001 2002 2003 2004 2005 8.00 Biểu đồ 2: Tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội (giai đoạn 2001-2005) Công nghiệp & Xây dựng Nông,lâm,thủy sản Giao thông,bưu điện Nhà ở,công trình công cộng Giáo dục, y tế, thể thao,văn hóa, khoa học CN Lĩnh vực khác 9% 8% 14% 44% 12% 13% 18 z Biểu đồ 3: Vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc (2001-2005) Nông,lâm,thủy sản Giao thông,bưu điện GD&ĐT Y tế,xã hội, văn hóa,thể thao KH&CN Các lĩnh vực khác 27.60% Biểu đồ 4: Tăng trƣởng kinh tế - xã hội qua các thời kỳ: Tốc độ tăng trưởng Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ 16.00% 1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2005 Tại thời điển hiện nay, khi đất nƣớc đang bƣớc vào giai đoạn hội nhập sâu và toàn diện vào hệ thống kinh tế thế giới và khu vực, thêm một lần, chúng ta phải suy ngẫm lại chân lý: cái đã từng đúng không chắc sẽ tiếp tục đúng. Đổi mới cần đƣợc tiếp tục đẩy mạnh chính là hiểu theo nghĩa đó. “Tiến hành công nghiệp hóa hƣớng tới kinh tế tri thức, dựa vào tri thức và hội nhập quốc tế; coi rƣợt đuổi tri thức và tiến kịp công nghệ là nội dung chủ chốt của toàn bộ nỗ lực đua tranh phát triển của dân tộc”.
Để đạt đƣợc những mục tiêu nhƣ mong muốn, chúng ta cần có một chiến lƣợc phát triển “rút ngắn”, “tiến kịp” bằng sự cắn răng vƣợt khó của 19 z ngƣời dân và tính kỷ luật sắt thép của xã hội. Chiến lƣợc phát triển phải có tầm nhìn vƣợt xa thực trạng đất nƣớc, phải bao quát đƣợc xu thế và triển vọng của nền kinh tế toàn cầu đang biến động rất nhanh và đầy bất trắc. Chiến lƣợc phải đảm bảo cho nền kinh tế tồn tại và phát triển bền vững. Đồng thời, phải hình thành và phát triển đồng bộ một xã hội dân chủ, văn minh, mở cửa, của con ngƣời, vì con ngƣời và do con ngƣời.
Đổi mới sự nghiệp giáo dục & đào tạo. Đổi mới triết lý giáo dục Thiên niên kỷ mới đã bắt đầu với một xu thế lớn là sự toàn cầu hóa, dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia về kinh tế, chủ yếu là kinh tế tri thức và công nghệ. Đây cũng là tiền đề của sự hình thành nền văn minh thứ 3 của nhân loại – nền văn minh trí tuệ.