Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về “văn hoá” và “văn học” * Khái niệm “văn hoá” Văn hoá là một khái niệm rất phức tạp. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa tùy theo góc độ của người nghiên cứu muốn nhấn mạnh phương diện nào.
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về văn hoá. Theo UNESCO, trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hoá. Theo từng góc độ tiếp cận, có định nghĩa xuất phát từ bình diện lịch sử, chính trị, xã hội, có định nghĩa xuất phát từ những đặc trưng, chức năng, cấu trúc… Tuỳ theo mỗi lĩnh vực, mỗi chuyên ngành nghiên cứu mà các nhà khoa học lại có một cách định nghĩa khác nhau. Điều này đã tạo nên sự phong phú cho khái niệm Văn hoá.
Bản thân từ văn hóa được dùng ở một số nước phương Đông hiện nay là một từ của người Nhật dịch từ “culture” trong ngôn ngữ phương Tây. Theo các nhà ngôn ngữ học phương Tây, Văn hoá (culture) - với tư cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng vào cuối thế kỷ XVII. Người đầu tiên đưa thuật ngữ “culture” vào khoa học là nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S. Ông đã sử dụng thuật ngữ này để khẳng định việc giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người là vô cùng quan trọng, giúp cho con người hoàn thiện, tiếp thu những cái đẹp, loại trừ những cái xấu, làm cho tâm hồn con người phát triển.
Sang thế kỷ XIX, văn hóa đã thực sự trở thành đối tượng của việc nghiên cứu khoa học. Nó trở thành đối tượng chủ yếu hoặc đối tượng quan trọng của các ngành khoa học như: dân tộc học, nhân học văn hóa, văn hóa học, xã hội học văn hóa… Định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở châu Âu là định nghĩa của nhà nhân học văn hóa người Anh E. Tylor đưa ra từ năm 1871 trong công trình nghiên cứu Văn hoá nguyên thuỷ xuất bản năm 1881 tại Luân Đôn. Trong cuốn sách này, E.Tylor định nghĩa: “Từ văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con 10 download by : skknchat@gmail.com người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”(Dẫn theo [61, tr.
Định nghĩa này được nhiều nhà khoa học chấp nhận và sau đó, khi có những nhà khoa học đưa ra những định nghĩa khác nhau thì nó vẫn được nhắc đến như một định nghĩa dùng để tham khảo. Trong “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa”, Tổ chức UNESCO cũng đã đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ về văn hoá mà theo chúng tôi đáng chú ý hơn cả: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân” [69, tr. Như vậy, UNESCO đã nhìn nhận Văn hoá theo nghĩa rộng nhất của từ này.
Ở Việt Nam, văn hóa là cụm từ được nhắc đến nhiều nhất, nhưng thực sự vẫn chưa có một khái niệm thống nhất theo cách hiểu cụ thể, mà vẫn đang tồn tại nhiều lớp khái niệm với các tầng nghĩa khác nhau. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa mang tính khái quát nhất: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [34, tr. Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm lại đưa ra một định nghĩa khác về văn hóa dựa trên phương diên cấu trúc hệ thống và loại hình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [61, tr.
Như vậy, căn cứ vào những định nghĩa về văn hóa trên, ta có thể hiểu khái quát: Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình 11 download by : skknchat@gmail.com sống. Văn hóa được sáng tạo, lưu giữ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa đồng thời mang những bản sắc riêng, đặc thù riêng để phân biệt giữa các dân tộc, quốc gia. * Khái niệm “văn học” Văn học hiểu theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ.
Theo cách hiểu này thì các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo… cũng có thể được gọi chung là Văn học. Theo nghĩa hẹp mà ngày nay chúng ta thường dùng thì khái niệm Văn học bao gồm các tác phẩm ngôn từ phản ánh những vấn đề đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật. Như vậy khi hiểu Văn học theo nghĩa hẹp, chúng ta đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo. Khái niệm Văn học có khi được dùng tương tự như khái niệm văn chương.
Tuy nhiên, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương. Văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, tính sáng tạo của văn học về phương diện nghệ thuật ngôn từ. Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng những chất liệu khác nhau. Nếu âm nhạc lấy chất liệu là âm thanh; hội họa là đường nét màu sắc… thì chất liệu đặc trưng của văn học là ngôn ngữ.
Nhưng ta có thể khẳng định rằng ngôn ngữ được sử dụng trong văn học không phải là ngôn ngữ bình dân ta vẫn sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt mà đó là thứ ngôn ngữ đã được các nhà văn “tinh xảo, nhào luyện” từ ngôn ngữ đời thường để trở thành thứ “ngôn ngữ biết nói”, giúp các nhà văn chuyển tải đến người đọc những thông điệp cuộc sống đầy ý nghĩa. Mỗi nhà văn đều là những nhà sáng tạo ngôn ngữ khi biết chắt lọc những ngôn từ trong cuộc sống thường ngày để tạo thành các ngôn từ nghệ thuật. Sự “dụng công” đó tạo nên dấu ấn riêng của các nhà văn. Các tác giả trong cuốn Từ điển văn học định nghĩa: “Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ.
Khái niệm văn học bao gồm cả văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền bằng miệng từ đời này sang đời khác và văn học viết được sáng tác và lưu truyền dưới hình thức văn bản viết (…). Văn học là sự phản ánh của đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người(…) Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm. Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó trên phương diện thẩm mĩ” [41, tr. 12 download by : skknchat@gmail.com Về bản chất văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ giàu tính nhạc, gợi cảm và mang tính tạo hình cao.
Văn học có khả năng phản ánh tất cả các phương diện của đời sống, từ đời sống bình thường tới những thời kỳ giông tố, bão táp có tính bản lề của lịch sử. Văn học phản ánh đời sống xã hội, con người và góp phần cải tạo và hoàn thiện hơn đời sống trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh. Tóm lại, văn học là một loại hình nghệ thuật đặc thù, góp phần tạo nên những giá trị văn hóa riêng của mỗi dân tộc, quốc gia. Qua đó, văn học góp phần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ đi lên của nhân loại trong tiến trình phát triển.
Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học Theo Trần Đình Sử thì “văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hóa”, điều đó cho thấy giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ khăng khít, gắn bó mật thiết với nhau. Văn học cũng như triết học, tôn giáo, đạo đức… là một bộ phận của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa. Mỗi quốc gia, dân tộc có nền văn hóa khác nhau sẽ tạo nên dấu ấn văn học khác nhau. Nếu như văn hóa trong quá trình hình thành và phát triển đã trải qua một chặng đường tìm kiếm, đấu tranh, sáng tạo nên những giá trị văn hóa thì văn học chính là công cụ để lưu giữ những giá trị của văn hóa không bị mai một hoặc mất đi theo thời gian, theo sự biến đổi của xã hội.
Điều này càng khẳng định văn học là tấm gương phản ánh văn hóa, biểu hiện văn hóa bằng nghệ thuật ngôn từ. Nói như nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Huỳnh Như Phương: “Văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật”. Ngày nay, văn hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ và thâm nhập sâu vào nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có văn học. Điều này đã khẳng định văn hóa và văn học có sự gắn kết sâu sắc và không thể chia tách.
Văn học là sự tự ý thức về văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, nó thể hiện cả tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc, quốc gia.