Luận văn Thạc sĩ Đoàn Thị Hồng Thủy: Truyện ngắn an ninh xã hội 3 tác giả

Tìm hiểu các truyện ngắn về an ninh xã hội của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước, Nguyễn Đình Tú. Luận văn thạc sĩ ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Cấu trúc luận văn

1. Chương 1: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIẾT VỀ ĐỀ TÀI AN NINH XÃ HỘI VÀ CHÂN DUNG BA NHÀ VĂN LÊ TRI KỶ, HỮU ƯỚC, NGUYỄN ĐÌNH TÚ

1.1. Các chặng đường phát triển của mảng văn xuôi viết về đề tài an ninh xã hội

1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945

1.1.2. Giai đoạn từ 1945 - 1975

1.1.3. Giai đoạn sau 1975

1.2. Khái quát về các nhà văn thuộc lực lượng vũ trang

1.2.1. Tình yêu với nghề

1.2.2. Bản lĩnh chính trị vững vàng

1.2.3. Những thuận lợi và khó khăn đặc thù của các nhà văn thuộc ngành công an quân đội khi viết về đề tài an ninh xã hội

1.3. Vài nét khái lược về ba nhà văn

1.3.1. Nhà văn Lê Tri Kỷ - anh cả của văn học thuộc ngành công an

1.3.2. Nhà văn Hữu Ước - nhà văn thế hệ thứ hai của ngành công an

1.3.3. Nhà văn Nguyễn Đình Tú - nhà văn trẻ xuất sắc của quân đội

2. Chương 2: HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI PHONG PHÚ SINH ĐỘNG, ĐẬM TÍNH THỜI SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI AN NINH XÃ HỘI CỦA LÊ TRI KỶ, HỮU ƯỚC, NGUYỄN ĐÌNH TÚ

2.1. Phản ánh những tệ nạn trong xã hội hiện đại

2.1.1. Lợi dụng chức quyền tham nhũng tham ô

2.1.2. Tệ nạn mại dâm trong đời sống xã hội

2.1.3. Tệ nạn ma túy đầu độc giới trẻ

2.2. Cảnh báo hiện tượng suy thoái về đời sống tinh thần xã hội

2.2.1. Sự suy thoái về đạo đức

2.2.2. Sự sa đọa về lối sống

2.2.3. Quan hệ thầy trò bị thị trường hóa

2.3. Phản ánh hiện tượng vô cảm trong xã hội hiện đại

3. Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI AN NINH XÃ HỘI CỦA LÊ TRI KỶ, HỮU ƯỚC, NGUYỄN ĐÌNH TÚ

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của ba nhà văn

3.1.1. Khắc họa nhân vật qua ngoại hình

3.1.2. Khắc họa nhân vật qua nội tâm

3.2. Giọng điệu nghệ thuật

3.2.1. Giọng điệu vui tươi tự hào

3.2.2. Giọng điệu triết lý

3.2.3. Giọng điệu giận dữ căm hận

3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật

3.3.1. Ngôn ngữ đời thường, giản dị

3.3.2. Ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá di sản truyện ngắn an ninh xã hội 3 tác giả

Truyện ngắn viết về đề tài an ninh xã hội là một mảng văn học đặc thù, phản ánh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và giữ gìn trật tự xã hội. Dòng văn học này không chỉ mang giá trị hiện thực sâu sắc mà còn góp phần định hình nhận thức của công chúng về lực lượng công an nhân dân. Trong đó, Lê Tri Kỷ, Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú là ba nhà văn công an tiêu biểu, đại diện cho ba thế hệ nối tiếp nhau. Mỗi người một phong cách sáng tác, một góc nhìn riêng, nhưng đều chung một mục tiêu là phơi bày những góc khuất của xã hội và tôn vinh hình ảnh người chiến sĩ. Lê Tri Kỷ được xem là người đặt nền móng, với những trang viết đậm chất nhân văn và triết lý. Hữu Ước, thuộc thế hệ thứ hai, mang đến những câu chuyện kịch tính, gai góc, xoáy sâu vào tâm lý con người trong ranh giới thiện-ác. Nguyễn Đình Tú, đại diện cho thế hệ trẻ, lại có bút pháp hiện đại, trần trụi, không né tránh những vấn đề nhức nhối của đời sống thị dân. Phân tích truyện ngắn an ninh xã hội của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước, Nguyễn Đình Tú là cách để hiểu rõ hơn sự vận động của văn học Việt Nam hiện đại và những trăn trở của người nghệ sĩ-chiến sĩ trước thời cuộc.

1.1. Bối cảnh ra đời của dòng văn học công an Việt Nam

Dòng văn học công an manh nha từ giai đoạn sau 1975, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Bối cảnh kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Tội phạm gia tăng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào đời sống. Điều này trở thành nguồn chất liệu dồi dào cho các nhà văn. Đặc biệt, các nhà văn xuất thân từ lực lượng vũ trang có lợi thế tiếp cận trực tiếp với hiện thực xã hội gai góc. Họ không chỉ là người chứng kiến mà còn là người trong cuộc, thấu hiểu những hy sinh, vất vả của người chiến sĩ và tâm lý phức tạp của tội phạm. Các cuộc vận động sáng tác như “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam khởi xướng đã tạo ra một sân chơi lớn, quy tụ nhiều cây bút tài năng, góp phần đưa mảng văn học này trở nên sôi động và có vị thế quan trọng.

1.2. Vị thế của Lê Tri Kỷ Hữu Ước Nguyễn Đình Tú

Ba tác giả đại diện cho ba chặng đường phát triển của dòng văn học này. Lê Tri Kỷ là người tiên phong, “anh cả của văn học thuộc ngành công an”. Ông có công khai phá mảng đề tài, đưa hình ảnh người công an gần gũi hơn với độc giả qua những khía cạnh đời thường, giàu tình người. Hữu Ước là thế hệ kế thừa xuất sắc, nổi bật với những tác phẩm đầy kịch tính, phản ánh những “vòng xoáy” của số phận con người trước cám dỗ. Nguyễn Đình Tú là gương mặt trẻ nổi bật, mang đến làn gió mới với tư duy sắc sảo, bút pháp táo bạo, đi sâu vào những vấn đề của xã hội đương đại như tội phạm công nghệ cao, sự tha hóa của giới trẻ. Việc phân tích tác phẩm văn học của họ cho thấy một sự tiếp nối và phát triển không ngừng, làm phong phú thêm cho nền văn học nước nhà.

II. Cách truyện ngắn phơi bày mặt trái của hiện thực xã hội

Một trong những thành công lớn nhất của truyện ngắn an ninh xã hội của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước, Nguyễn Đình Tú là khả năng phản ánh chân thực và gai góc những vấn đề nhức nhối của xã hội. Các tác phẩm không tô hồng hiện thực mà đi thẳng vào những góc tối, nơi tội phạm và công lý đối đầu quyết liệt. Đó là tệ nạn tham ô, lợi dụng chức quyền làm băng hoại đạo đức xã hội. Đó là vấn nạn mại dâm, ma túy đang tàn phá một bộ phận giới trẻ. Các nhà văn, với lợi thế của người trong ngành, đã mang đến những câu chuyện dựa trên những vụ án có thật, khiến trang viết có sức nặng và độ tin cậy cao. Họ không chỉ miêu tả hành vi phạm tội mà còn đi sâu phân tích nguyên nhân, từ sự cám dỗ của đồng tiền đến sự suy thoái về lối sống. Theo PGS.TS Cao Thị Hảo, các tác giả đã “phản ánh những tệ nạn trong xã hội hiện đại” một cách sinh động, đậm tính thời sự. Qua đó, các truyện ngắn không chỉ là tác phẩm văn học mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc về những nguy cơ tiềm ẩn trong đời sống, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trên mặt trận tư tưởng.

2.1. Phản ánh tệ nạn tham nhũng và lạm dụng chức quyền

Vấn nạn tham nhũng, lợi dụng quyền chức để mưu lợi cá nhân được các tác giả khai thác một cách sắc bén. Lê Tri Kỷ trong Bí mật cho những cuộc đời đã phác họa chân dung một cán bộ chống buôn lậu tha hóa. Hữu Ước trong Nhật ký hai phiên tòa lại cho thấy ma lực của đồng tiền đã phá hủy hạnh phúc một gia đình, đẩy con người vào vòng lao lý. Nguyễn Đình Tú trong Mơ về một khúc sông trôi còn đi xa hơn khi khắc họa một âm mưu tàn nhẫn, nơi người bố chồng sẵn sàng đẩy con dâu ra chịu tội thay cho mình. Những câu chuyện này cho thấy tham nhũng không chỉ gây thất thoát tài sản nhà nước mà còn làm xói mòn niềm tin, hủy hoại các giá trị đạo đức nền tảng của xã hội.

2.2. Vấn nạn mại dâm và buôn người qua lăng kính văn học

Tệ nạn mại dâm và buôn người là nỗi đau nhức nhối của xã hội hiện đại, và nó được thể hiện một cách trần trụi trong các tác phẩm. Hữu Ước gây ấn tượng mạnh với Đêm giông, kể về bi kịch của một cô gái trẻ bị lây nhiễm HIV từ việc bán dâm, phơi bày mặt tối của những quán bar, vũ trường. Trong Thúy, ông vạch trần đường dây buôn người qua biên giới, nơi thân phận con người bị coi như một món hàng. Nguyễn Đình Tú cũng đề cập đến vấn đề này trong Nàng tiên cá hay Gội đầu xóm núi, nhưng với một góc nhìn cảm thông hơn cho những số phận lầm lỡ. Các tác phẩm cho thấy nguyên nhân đẩy các cô gái vào con đường này thường xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn, sự thiếu hiểu biết và cạm bẫy của thế giới ngầm.

III. Phương pháp xây dựng nhân vật chiến sĩ công an đặc sắc

Thành công của một tác phẩm văn học công an không chỉ nằm ở cốt truyện kịch tính mà còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt là hình tượng nhân vật chiến sĩ công an. Khác với lối mòn lý tưởng hóa, các truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước, Nguyễn Đình Tú đã khắc họa người công an một cách chân thực, đa chiều. Họ không phải là những “siêu nhân” mà là những con người bình thường với đủ đầy những trăn trở, dằn vặt, thậm chí cả những sai lầm. Lê Tri Kỷ tập trung vào vẻ đẹp nội tâm, sự nhân hậu và triết lý sống của người chiến sĩ. Ông cho thấy đằng sau bộ cảnh phục là một trái tim giàu lòng trắc ẩn, luôn day dứt trước số phận con người. Hữu Ước lại xây dựng những nhân vật mạnh mẽ, quyết đoán trong hành động nhưng cũng đầy giằng xé trong nội tâm khi đối diện với ranh giới mong manh giữa pháp luật và tình người. Trong khi đó, Nguyễn Đình Tú mang đến những nhân vật trẻ trung, năng động, thông minh nhưng đôi khi cũng bộc lộ sự non nớt, bồng bột. Chính sự chân thực này đã giúp hình ảnh người công an trở nên gần gũi, đáng tin và đáng mến hơn trong lòng độc giả.

3.1. Lê Tri Kỷ Khắc họa chiều sâu nội tâm và triết lý nhân sinh

Nhà văn Lê Tri Kỷ không tập trung vào những pha hành động gay cấn mà chú trọng khai thác thế giới nội tâm của người chiến sĩ. Nhân vật của ông thường suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời, về ranh giới thiện-ác. Trong Phố vắng, người công an không chỉ phá án mà còn cảm thông cho nỗi đau của kẻ phạm tội. Ông quan niệm, sức mạnh lớn nhất của người chiến sĩ không phải là quyền lực mà là tình người. Cách xây dựng nhân vật này mang đậm giá trị nhân văn, cho thấy cuộc chiến chống tội phạm cũng chính là cuộc chiến bảo vệ phần “người” trong mỗi con người. Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng từng nhận định truyện của ông “rất Công an mà chẳng có gì là trinh thám” chính là vì lẽ đó.

3.2. Hữu Ước Hình tượng người chiến sĩ quyết liệt và giằng xé

Nhân vật công an trong truyện của Hữu Ước thường được đặt vào những tình huống éo le, buộc phải đưa ra những lựa chọn khó khăn. Họ thông minh, dũng cảm trong chuyên môn nghiệp vụ nhưng cũng phải đối mặt với những xung đột nội tâm gay gắt. Trong Một con người, nhân vật công an phải đấu tranh giữa việc tuân thủ pháp luật và sự cảm thông cho một số phận bất hạnh. Sự giằng xé này làm cho nhân vật trở nên sống động, có chiều sâu và phản ánh đúng thực tế phức tạp của công việc. Bút pháp của Hữu Ước thể hiện rõ nét sự khốc liệt trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nơi người chiến sĩ không chỉ đối đầu với kẻ thù mà còn phải chiến thắng chính bản thân mình.

3.3. Nguyễn Đình Tú Chân dung chiến sĩ công an thời hiện đại

Nguyễn Đình Tú mang đến một thế hệ chiến sĩ công an mới: trẻ trung, am hiểu công nghệ và đối mặt với những loại hình tội phạm mới. Nhân vật của anh trong các tiểu thuyết hình sự và truyện ngắn thường là những người lính trẻ, đầy nhiệt huyết nhưng cũng không tránh khỏi những sai sót. Họ sử dụng trí tuệ và các phương pháp điều tra hiện đại để phá án. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với những cám dỗ của xã hội thị dân, những áp lực từ công việc và cuộc sống. Cách xây dựng nhân vật này gần gũi với thế hệ độc giả trẻ, phản ánh đúng chân dung người chiến sĩ công an trong bối cảnh xã hội mới, năng động và nhiều thách thức hơn.

IV. Phân tích phong cách sáng tác đặc trưng của 3 nhà văn

Mỗi nhà văn đều để lại dấu ấn riêng qua phong cách sáng tác độc đáo, góp phần làm nên sự đa dạng cho mảng truyện ngắn an ninh xã hội. Phong cách nghệ thuật không chỉ thể hiện ở cách xây dựng nhân vật mà còn ở giọng điệu, ngôn ngữ và kết cấu truyện. Lê Tri Kỷ sở hữu giọng văn trầm tĩnh, giàu chất triết lý, ngôn ngữ giản dị nhưng sâu sắc. Ông thường sử dụng kết cấu truyện cổ điển, tập trung vào việc chuyển tải một bài học nhân sinh. Hữu Ước lại có bút pháp mạnh mẽ, kịch tính, đậm chất điện ảnh. Truyện của ông thường có nhịp độ nhanh, nhiều tình tiết bất ngờ, ngôn ngữ góc cạnh, phản ánh sự khốc liệt của hiện thực xã hội. Nguyễn Đình Tú, với tư duy của thế hệ nhà văn trẻ, lại ưa chuộng lối viết hiện đại, trần trụi. Giọng văn của anh có sự pha trộn giữa chất lính và chất luật, vừa nghiêm cẩn, logic, vừa có chút tưng tửng, hài hước. Sự khác biệt trong phong cách này đã tạo nên một bức tranh đa sắc màu về cuộc chiến chống tội phạm, thu hút nhiều đối tượng độc giả khác nhau.

4.1. Giọng điệu nghệ thuật Từ triết lý sâu sắc đến căm giận

Giọng điệu là một yếu tố quan trọng tạo nên phong cách. Lê Tri Kỷ thường sử dụng giọng kể thủ thỉ, tâm tình, giàu triết lý. Ông không phán xét mà để nhân vật tự bộc lộ, để câu chuyện tự nói lên ý nghĩa. Ngược lại, giọng văn của Hữu Ước thường gay gắt, đôi khi phẫn nộ trước cái ác, cái xấu. Ông trực tiếp lên án những hành vi vô nhân đạo, thể hiện một thái độ quyết liệt. Nguyễn Đình Tú lại có giọng điệu đa dạng hơn, khi thì lạnh lùng, khách quan như một bản hồ sơ vụ án, khi lại mỉa mai, châm biếm trước những nghịch lý của đời sống. Sự đa dạng trong giọng điệu giúp các tác phẩm nổi bật và không bị một màu.

4.2. Ngôn ngữ nghệ thuật Giản dị đời thường và giàu cảm xúc

Ngôn ngữ trong truyện của ba tác giả đều có đặc điểm chung là gần gũi với đời sống. Lê Tri Kỷ dùng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, chắt lọc. Hữu Ước sử dụng ngôn ngữ mạnh, góc cạnh, mang hơi thở của đường phố và thế giới ngầm. Ngôn ngữ của Nguyễn Đình Tú lại rất hiện đại, cập nhật cả những từ lóng, thuật ngữ của giới trẻ, làm cho câu chuyện trở nên sống động và chân thực. Việc sử dụng ngôn ngữ đời thường không làm giảm đi giá trị văn học, trái lại, nó giúp tác phẩm dễ đi vào lòng người, phản ánh chính xác hơn không khí của xã hội đương thời.

V. Giá trị và đóng góp của truyện ngắn cho văn học Việt Nam

Các tác phẩm truyện ngắn an ninh xã hội của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước, Nguyễn Đình Tú không chỉ có giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật mà còn có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Trước hết, các tác phẩm đã khẳng định vị thế của một dòng văn học đặc thù, đưa đề tài an ninh xã hội từ chỗ bị coi là “cận văn chương” trở thành một mảng đề tài hấp dẫn, được công chúng đón nhận. Thứ hai, những truyện ngắn này đã góp phần làm phong phú thêm cho thể loại truyện trinh thám Việt Nam, mang đến những sắc thái riêng biệt, đậm chất Việt Nam, khác với các tác phẩm trinh thám phương Tây. Quan trọng hơn, các tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng người chiến sĩ công an gần gũi, chân thực, giúp công chúng hiểu và cảm thông hơn với những hy sinh thầm lặng của họ. Đây không chỉ là thành tựu văn học mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn, củng cố niềm tin của nhân dân vào lực lượng bảo vệ pháp luật, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

5.1. Nâng cao nhận thức về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Thông qua những câu chuyện hấp dẫn, các tác giả đã giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự phức tạp và nguy hiểm của các loại tội phạm. Các tác phẩm không chỉ là tiếng chuông cảnh tỉnh về các tệ nạn xã hội mà còn là bài học về tinh thần cảnh giác. Độc giả hiểu được rằng cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của riêng lực lượng công an mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Những trang viết này đã trở thành một kênh tuyên truyền hiệu quả, góp phần xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

5.2. Di sản bất hủ và tương lai của dòng văn học công an

Lê Tri Kỷ, Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú đã để lại một di sản quý báu. Họ đã mở đường, kế thừa và phát triển dòng văn học về đề tài an ninh xã hội, tạo tiền đề cho các thế hệ nhà văn sau này. Tương lai của mảng văn học này vẫn rất rộng mở, với những thách thức mới từ xã hội số, tội phạm công nghệ cao. Di sản của ba nhà văn công an này sẽ là nguồn cảm hứng, là bài học kinh nghiệm để các cây bút trẻ tiếp tục khám phá, sáng tạo, mang đến những tác phẩm giá trị, phản ánh kịp thời hiện thực xã hội và cuộc chiến không ngừng nghỉ vì sự bình yên của cuộc sống.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ truyện ngắn về đề tài an ninh xã hội của lê tri kỷ hữu ước và nguyễn đình tú

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIẾT VỀ ĐỀ TÀI AN NINH XÃ HỘI VÀ CHÂN DUNG BA NHÀ VĂN LÊ TRI KỶ, HỮU ƯỚC, NGUYỄN ĐÌNH TÚ 1. Các chặng đường phát triển của mảng văn xuôi viết về đề tài an ninh xã hội Văn học về đề tài an ninh xã hội đã bắt đầu manh nha ngay từ thời kỳ đầu xuất hiện chữ Quốc ngữ và với tình hình xã hội biến đổi liên tục của Việt Nam thì việc nó quan tâm và được phát triển là điều tất yếu, không cần phải bàn cãi. Văn học về đề tài an ninh xã hội là dòng văn học chuyên viết về những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia và trật tự, bình an của xã hội. Nó phản ánh những vấn đề có tính thời sự, các tệ nạn trong xã hội đương thời có ảnh hưởng đến an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Chính vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn bình yên cho cuộc sống. Tác phẩm văn học về đề tài an ninh xã hội trong văn học Việt Nam hiện đại xuất hiện từ bao giờ đến nay vẫn chưa thấy có tài liệu nào nói rõ. Tuy nhiên nếu như ta tính từ thời điểm tác phẩm Thầy Lazaro phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời (1887) làm mốc thời gian bắt đầu của truyện ngắn Việt Nam hiện đại thì ta có thể xem xét sự phát triển của văn học về đề tài an ninh xã hội qua các giai đoạn sau: trước 1945, giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn sau 1975. Giai đoạn trước năm 1945 Văn học viết về đề tài an ninh xã hội ở Việt Nam xuất hiện trước tiên dưới hình thức của các tác phẩm trinh thám.

Chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, những năm 1920-1930, văn học trinh thám – một dòng văn học vốn rất được ưa chuộng ở châu Âu mới bắt đầu được độc giả Việt Nam quan tâm và biết đến. Văn học trinh thám xuất hiện trước tiên thông qua các tác phẩm nổi tiếng của Conan Doyle, Edgar Allan Poe, Gaston Leroux,. được dịch ra tiếng Việt. Hầu hết các tác phẩm dịch này đều được công chúng nhiệt liệt chào đón và bán rất chạy ở các đô thị.

Các nhà văn cũng bắt đầu quan tâm hơn tới những mảng sáng tác này và từ đó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com tiểu thuyết trinh thám bắt đầu ra đời, khởi đầu với tiểu thuyết Mảnh trăng thu của Bửu Đình xuất bản năm 1930. Mảnh trăng thu đã xuất hiện yếu tố trinh thám với vụ án giết người, điều tra thủ phạm, dù rằng thời bấy giờ người ta vẫn xếp nó vào dạng tiểu thuyết ái tình. Ngay sau đó hàng loạt những tác phẩm trinh thám ra đời. Cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của văn học Việt Nam là Vết tay trên trần của nhà văn Phạm Cao Củng xuất bản năm 1936.

Nhà văn sau này cũng đã trở thành tác gia trinh thám đầu tiên của văn học Việt Nam với khoảng hơn 20 tiểu thuyết và truyện ngắn mang màu sắc trinh thám, như: Gia tài nhà họ Đặng (1937), Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Người một mắt (1940), Kỳ Phát giết người (1941), Nhà sư thọt (1941), Đám cưới Kỳ Phát (1942), Bóng người áo tím (1942), Một cái Tết rùng rợn của Kỳ Phát (1945). Ngoài ra còn có một số tác giả khác như Bùi Huy Phồn với Gan dạ đàn bà (1942); Mối thù truyền kiếp (1942); Tờ di chúc (1943)… hay Thế Lữ với Lê Phong phóng viên (1937), Lê Phong và Mai Hương, Đòn hẹn (1939), Gói thuốc lá (1940). Tuy nhiên lúc bấy giờ ngoài Phạm Cao Củng được đánh giá là tác giả trinh thám thì các tác giả khác vẫn chưa được xếp vào đúng vị trí của nó. Nếu đọc cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan ta sẽ thấy rất rõ sự thật này.

Ông chỉ xếp duy nhất Phạm Cao Củng vào mục tiểu thuyết trinh thám, còn Bùi Huy Phồn nằm ở phần tiểu thuyết hoạt kê, Thế Lữ thì xếp vào thi gia. Các tác phẩm này đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nhà văn trinh thám nổi tiếng của phương Tây, tiêu biểu như Arthur Conan Doyle (Sherlock Homles), Edga Allan Poe (Vụ giết người ở phố Morgue, Bí mật của Marie Roger, Bức thư bị đánh cắp) hay Agatha Christie (Thảm kịch bí ẩn ở Styles, Vụ giết người trên sân gôn, Bộ tứ, Bí mật chuyến tàu xanh, Bí mật trong chiếc vali, Chết như chơi, Ngòi bút tẩm độc, …). Cụ thể, Phạm Cao Củng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Conan Doyle, còn Thế Lữ lại học hỏi Edgar Poe nhiều hơn. Như các tiểu thuyết trinh thám phương Tây, Phạm Cao Củng và Thế Lữ đã xây dựng tác phẩm của mình theo kết cấu kiểu series nhiều truyện với một nhân vật xuyên suốt.

Nhân vật thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng hay phóng viên Lê Phong của Thế Lữ là nhân vật chính của nhiều truyện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com giống như nhân vật Dupin của Edgar Poe, thám tử Homles của Conan Doyle và thám tử Hercule Poirot, Bà Marple, Chánh thanh tra Battle của Agatha Christie. Có thể thấy giai đoạn từ cuối thập niên 1930 đến trước 1945 là giai đoạn mà văn học trinh thám Việt Nam tuy mới bắt đầu hình thành nhưng cũng đã xuất hiện nhiều thành tựu. Trước năm 1975, đây cũng được xem như là thời kỳ văn học trinh thám Việt Nam hưng thịnh nhất. Giai đoạn từ 1945 - 1975 Sau năm 1945, dòng văn học trinh thám nói riêng và văn học về đề tài an ninh xã hội nói chung không có nhiều thành tựu.

Ở miền Bắc, dòng văn học này không còn cơ hội phát triển do sự trưởng thành và nở rộ mạnh mẽ của dòng văn học cách mạng. Các nhà văn và độc giả quan tâm hơn đến cuộc kháng chiến giành độc lập thần thánh của dân tộc. Chỉ duy nhất dòng văn học tình báo - phản gián là còn cơ hội tiếp tục tồn tại. Các tác phẩm này có cơ hội phát triển đến tận sau 1975, khi mà chiến tranh đã kết thúc.

Tiêu biểu nhất theo xu hướng này có thể kể đến các tiểu thuyết sau: X30 phá lưới (Đặng Thanh), Ông cố vấn (Hữu Mai), Ván bài lật ngửa (Nguyễn Trương Thiên Lý)…. Tất cả những tác phẩm này đều được xây dựng trên nguyên tắc người thật việc thật và đã hoàn toàn thoát ly được kiểu kết cấu được xây dựng ăn theo phong cách series dài tập của trinh thám phương Tây trong sáng tác của các tác giả Nam Kỳ những năm 30 – 40. Riêng ở miền Nam, giai đoạn 1945-1975 đã có hướng đi và sự phát triển riêng. Sau năm 1954, ở miền Nam vì vẫn tồn tại tầng lớp người đọc thị dân ở một số đô thị lớn (tầng lớp này có yêu cầu về chất lượng cuộc sống cao, trong đó không thể thiếu giải trí) nên văn học trinh thám có cơ hội tồn tại dù hầu như không phát triển và xuất hiện rất ít, chủ yếu vẫn là các tác phẩm nước ngoài được dịch sang tiếng Việt để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.

Giai đoạn sau 1975 Sau năm 1975, văn học Việt Nam về đề tài an ninh xã hội đã có nhiều cơ hội và không gian hơn để phát triển. Tuy nhiên, để văn học có thể thoát ly hoàn toàn khỏi đề tài chính trị, chiến tranh và hậu chiến tranh; để những tác giả trước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com kia chỉ có thể viết về đề tài trinh thám - tình báo có thể chuyển sang sáng tác về các vấn đề xã hội an ninh khác thì phải đợi đến tận khi đất nước bước vào sự đổi mới toàn diện, tức là từ năm 1986. Việc bãi bỏ chế độ bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường tự do đã giúp xã hội có nhiều thay đổi căn bản, không những về đời sống mà cả nhận thức. Nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội mới, cả tích cực lẫn tiêu cực.

Lúc này, các nhà văn cũng được khuyến khích tìm tòi sáng tạo thật mạnh bạo trên những phương diện mới. Hiện thực đời sống bấy giờ không phải chỉ gói gọn trong hiện thực chính trị xã hội mà mở rộng ra cả những vấn đề của đời sống nhân sinh thế sự. Đây chính là cơ sở cho việc mở rộng đề tài trong văn học nói chung, cũng như việc mở rộng biên độ của đề tài an ninh xã hội trong truyện ngắn nói riêng. Đây là hệ quả tất nhiên, bởi lẽ các nhà văn là người nhạy cảm hơn ai hết đối với sự biến động của cuộc sống, và trong tất cả các thể loại văn học thì truyện ngắn là thể loại dễ biến đổi nhất.

Cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, đạo đức nhân cách ngày một suy đồi; vì đồng tiền người ta có thể làm nhiều việc sai trái, thậm chí bất chấp cả pháp luật và đạo đức. Nhà văn phải là người tiên phong chỉ ra những góc tối này, từ đó giúp con người tỉnh ngộ, hướng thiện, phục thiện, căm ghét, tránh xa và bài trừ cái ác. Chính vì vậy nên có lẽ hiện nay đề tài an ninh xã hội là một trong những đề tài được quan tâm nhiều của các nhà văn. Mỗi năm có hàng chục thậm chí hàng trăm tác phẩm về đề tài an ninh xã hội ra đời.

Thậm chí các tổ chức xã hội còn tổ chức nhiều cuộc thi để khuyển khích văn nghệ sĩ viết về đề tài này. Tiêu biểu nhất là cuộc thi “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ công an - Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức. Nhiều tác phẩm có giá trị đã ra đời từ cuộc thi này như Phiên bản (Nguyễn Đình Tú), Sát thủ online (Nguyễn Xuân Thủy), Kẻ ám sát cánh đồng (Nguyễn Quang Thiều), Hoa bay (Chu Thanh Hương), Chạy án (Như Phong)… Lực lượng sáng tác về đề tài an ninh xã hội vô cùng hùng hậu, từ những nhà văn “cây đa, cây đề”, những lão tướng đã có tên tuổi trên văn đàn từ trước như Ma Văn Kháng, Hồ Phương… đến những ngòi bút trẻ tuy còn thiếu kinh nghiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com nhưng đầy nội lực sáng tạo như Nguyễn Xuân Thủy, Chu Thanh Hương, Dili, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng… Mới đây, nhân dịp kỷ niệm tròn 70 năm ngày thành lập Lực lượng CAND, Bộ Công an đã tôn vinh 18 nhà văn có nhiều đóng góp cho văn học về đề tài “Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ