Tổng quan nghiên cứu

Trong suốt hơn 70 năm xây dựng và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân từ năm 1945 đến năm 2015, mảng văn học viết về đề tài an ninh xã hội luôn giữ vị trí xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Đề tài an ninh trật tự xã hội phản ánh trực diện những điểm nóng của đời sống đương đại, từ cuộc chiến chống tội phạm đến những biến động phức tạp của nhân sinh thế sự. Tuy nhiên, trước năm 2016, các công trình nghiên cứu học thuật thường chỉ tiếp cận mảng sáng tác này một cách riêng lẻ hoặc tập trung vào thể loại tiểu thuyết, trong khi thể loại truyện ngắn với tính cơ động và nhạy bén cao lại chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam thực hiện năm 2016 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã giải quyết triệt để khoảng trống nghiên cứu này. Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát, phân tích và đánh giá có hệ thống giá trị hiện thực cùng những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn viết về đề tài an ninh xã hội của ba tác giả tiêu biểu: Lê Tri Kỷ, Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú. Phạm vi nghiên cứu bao quát các sáng tác trải dài qua hơn 50 năm, từ năm 1961 đến năm 2015, tương ứng với ba thế hệ nhà văn xuất thân từ lực lượng vũ trang. Ý nghĩa khoa học của công trình thể hiện ở việc hệ thống hóa nguồn tư liệu phong phú từ 19 tập truyện ngắn và tuyển tập, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác lý luận phê bình văn học về đề tài lực lượng vũ trang và an ninh Tổ quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của hai hệ thống lý thuyết chủ đạo là Xã hội học văn học và Thi pháp học hiện đại. Xã hội học văn học cho phép xem xét văn học như một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh sinh động các quy luật vận động của đời sống nhân sinh, đặc biệt là sự chuyển biến sâu sắc từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường sau năm 1986. Thi pháp học hiện đại cung cấp các công cụ phân tích cấu trúc nghệ thuật văn bản, tập trung vào thi pháp nhân vật, thi pháp giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật.

Hệ thống khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: đề tài an ninh xã hội (mảng sáng tác phản ánh cuộc đấu tranh bảo vệ trật tự trị an và công lý), hình tượng người chiến sĩ vũ trang (nhân vật trung tâm mang phẩm chất trung thành, bản lĩnh và lòng nhân ái), cảm hứng thế sự - đời tư (sự chuyển dịch điểm nhìn từ cộng đồng sang chiều sâu số phận cá nhân) và thi pháp thể loại truyện ngắn (nghệ thuật xây dựng tình huống, kết cấu lát cắt và xung đột đạo đức).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của luận văn bao gồm toàn bộ các truyện ngắn tiêu biểu về đề tài an ninh xã hội trong 19 tập sách xuất bản từ năm 1961 đến năm 2013 của ba tác giả. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập qua phương pháp chọn mẫu chuyên biệt theo từng tác giả: khảo sát trọn vẹn 7 tập truyện của nhà văn Lê Tri Kỷ (tiêu biểu như Cây đa xanh năm 1961, Những tiếng nói thầm năm 1978, Tuyển tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ năm 1995); 4 tập truyện của nhà văn Hữu Ước với 9 trên 14 truyện thuộc mảng an ninh xã hội; và 8 tập truyện của nhà văn Nguyễn Đình Tú với 21 trên 62 truyện viết về đề tài an ninh và người lính.

Luận văn kết hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phương pháp thống kê hệ thống để định lượng tần suất xuất hiện của các chủ đề và mô típ nghệ thuật; phương pháp so sánh đối chiếu theo trục đồng đại và lịch đại nhằm chỉ ra sự kế thừa và đổi mới qua ba thế hệ; phương pháp phân tích tổng hợp văn bản kết hợp thao tác thi pháp học liên ngành. Việc lựa chọn các phương pháp này bảo đảm tính khách quan, giúp nhận diện sự biến chuyển tư duy nghệ thuật gắn liền với các mốc lịch sử từ năm 1945, năm 1975 và giai đoạn sau Đổi mới năm 1986. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện nghiêm cẩn trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống văn bản cho thấy ba phát hiện khoa học nổi bật về nội dung hiện thực và hình thức nghệ thuật của mảng truyện ngắn an ninh xã hội:

Thứ nhất, các tác phẩm đã phơi bày trực diện bức tranh hiện thực phức tạp về các tệ nạn xã hội đương thời. Vấn nạn lợi dụng chức quyền để tham nhũng, tham ô và trục lợi xuất hiện xuyên suốt từ tác phẩm của Lê Tri Kỷ (như Giấy chứng nhận cho quỷ dữ, Bí mật cho những cuộc đời) đến Nguyễn Đình Tú (như Mơ về một khúc sông trôi), chiếm khoảng 35% tổng số tác phẩm khảo sát. Tệ nạn mại dâm, ma túy và buôn bán phụ nữ qua biên giới được phản ánh đậm nét trong 64,3% truyện ngắn an ninh của Hữu Ước (như Đêm giông, Thúy) và 33,9% sáng tác của Nguyễn Đình Tú (như Nàng tiên cá, Gội đầu xóm núi), cảnh báo nguy cơ hủy hoại thể xác lẫn nhân phẩm con người.

Thứ hai, nghệ thuật xây dựng nhân vật có bước đột phá mạnh mẽ từ tính chất đơn tuyến sang đa chiều phức cảm. Hơn 80% nhân vật trong giai đoạn đổi mới được khắc họa sâu sắc qua diễn biến nội tâm và bi kịch cá nhân. Người chiến sĩ công an không còn xuất hiện như những tượng đài bất biến mà hiện lên đời thường với những trăn trở, day dứt nghề nghiệp; trong khi nhân vật tội phạm được phân tích thấu đáo từ nguyên nhân sa ngã, mở ra cánh cửa phục thiện và hoàn lương.

Thứ ba, hệ thống giọng điệu trần thuật có sự chuyển dịch rõ rệt qua từng thế hệ. Nếu ở giai đoạn trước năm 1975, giọng điệu tự hào, vui tươi ngợi ca chiếm ưu thế chủ đạo, thì ở giai đoạn sau năm 1986, giọng điệu triết lý chiêm nghiệm, giọng phẫn nộ căm hận trước cái ác và giọng cảm thương trước các mảnh đời lầm lỡ đã chiếm tỷ lệ chi phối trong truyện ngắn của cả Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự thay đổi diện mạo truyện ngắn an ninh xã hội xuất phát từ bước ngoặt kinh tế thị trường sau năm 1986. Sự bùng nổ của quy luật giá trị và mặt trái của đồng tiền đã làm nảy sinh nhiều xung đột đạo đức gay gắt, buộc nhà văn phải nhìn nhận hiện thực bằng cái nhìn đa chiều. Ưu thế công tác trực tiếp trong lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đã cung cấp cho Lê Tri Kỷ, Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú nguồn tư liệu người thật việc thật vô cùng sống động, giúp trang viết vừa mang tính thời sự nóng hổi vừa thấm đẫm giá trị nhân văn.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu năm 2012 của tác giả Phạm Thị Thái hoặc nghiên cứu năm 2013 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng vốn chỉ tiếp cận đơn lẻ tác giả Lê Tri Kỷ), luận văn này đã tạo ra bước tiến mới khi đặt cả ba tác giả vào một hệ thống đối sánh liên thế hệ.

Về mặt biểu diễn dữ liệu, toàn bộ phát hiện nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua hai công cụ:

  • Bảng phân loại chuyên đề tệ nạn xã hội: Thể hiện tần suất và tỷ lệ phản ánh các nhóm hành vi vi phạm (tham nhũng, ma túy, mại dâm, buôn người) qua 19 tập truyện ngắn.
  • Biểu đồ tiến trình vận động giọng điệu nghệ thuật: Mô phỏng sự biến thiên của 3 sắc thái giọng điệu chính (ngợi ca, triết lý, cảnh báo) qua 3 mốc thời gian lịch sử (trước năm 1945, giai đoạn 1945-1975 và sau năm 1975 đến 2015).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển của mảng văn học an ninh xã hội trong thời gian tới:

  1. Đổi mới công tác tổ chức sáng tác: Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam cần duy trì và mở rộng quy mô các trại sáng tác chuyên đề Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống. Mục tiêu đặt ra là thu hút ít nhất 50 cây bút trẻ tài năng tham gia trong lộ trình 2026-2028, tạo điều kiện thâm nhập thực tế tại các đơn vị cảnh sát hình sự và trại giam để tích lũy tư liệu thực tế sống động.

  2. Nâng cao chất lượng thi pháp tác phẩm: Các nhà văn thuộc lực lượng vũ trang cần chủ động tiếp thu các kỹ thuật tự sự hiện đại, chuyển dịch mạnh mẽ từ lối miêu tả vụ án thuần túy sang phân tích chiều sâu tâm lý và xung đột nhân cách. Mục tiêu là nâng tỷ lệ tác phẩm có chiều sâu tâm lý xã hội đa thanh lên trên 60% tổng số tác phẩm xuất bản vào năm 2027.

  3. Đẩy mạnh chuyển thể và truyền thông đa phương tiện: Cục Truyền thông Công an nhân dân cùng các hãng phim truyền hình cần chủ động lựa chọn chuyển thể tối thiểu 30% các truyện ngắn an ninh xã hội đặc sắc sang kịch bản điện ảnh, phim truyền hình nhiều tập và sân khấu kịch trong giai đoạn 2026-2030, nhằm mở rộng sức lan tỏa trong công chúng.

  4. Tích hợp giảng dạy học thuật chuyên đề: Khoa Ngữ văn tại các trường đại học sư phạm và các học viện công an nhân dân cần xây dựng học phần chuyên đề Văn học về đề tài an ninh xã hội với thời lượng từ 15 đến 30 tiết giảng dạy từ năm học 2027-2028, góp phần giáo dục nhân sinh quan và lý tưởng sống cho thế hệ trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Sư phạm Văn học và Văn hóa học tại các trường đại học. Công trình cung cấp hệ thống luận điểm khoa học, tư liệu trích dẫn chuẩn xác và phương pháp tiếp cận liên ngành phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và viết khóa luận tốt nghiệp.

Thứ hai, các nhà văn, nhà biên kịch, nhà báo và cây bút trẻ thuộc lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. Nghiên cứu giúp người sáng tác nắm bắt các quy luật thi pháp thể loại, học hỏi kinh nghiệm xây dựng nhân vật và nghệ thuật xử lý tư liệu nghiệp vụ từ 3 tác gia lớn.

Thứ ba, các nhà lý luận, phê bình văn học và ban biên tập các nhà xuất bản, tạp chí chuyên ngành văn nghệ vũ trang. Luận văn là tài liệu tham chiếu tin cậy để thẩm định, đánh giá và định hướng giá trị tư tưởng nghệ thuật cho mảng sách an ninh trật tự.

Thứ tư, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy làm công tác tuyên giáo, giáo dục chính trị tư tưởng và phòng chống tội phạm trong lực lượng vũ trang, giúp nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa nghệ thuật trong công tác tuyên truyền phòng ngừa tệ nạn xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Dòng văn học viết về đề tài an ninh xã hội ở Việt Nam phát triển qua những giai đoạn lịch sử nào? Dòng văn học này phát triển qua 3 chặng đường chính: giai đoạn trước năm 1945 gắn liền với sự hình thành của tiểu thuyết trinh thám đầu tiên năm 1936 của Phạm Cao Củng; giai đoạn 1945-1975 nổi bật với mảng truyện tình báo, phản gián; và giai đoạn sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, mở rộng mạnh mẽ sang các vấn đề thế sự đời tư phức tạp.

Vì sao các tác giả thuộc lực lượng vũ trang lại đạt được thành công nổi trội ở đề tài này? Nhờ đặc thù nghề nghiệp, các nhà văn công an và quân đội được tiếp cận trực tiếp với các nguồn tư liệu chuyên án chân thực, am hiểu sâu sắc tâm lý cán bộ chiến sĩ lẫn giới tội phạm. Nguồn vốn sống phong phú từ thực tế phá án giúp trang văn đạt độ chân thực cao, kết hợp cùng bản lĩnh chính trị vững vàng được tôi luyện qua nhiều năm công tác.

Sự khác biệt tiêu biểu trong phong cách nghệ thuật giữa Lê Tri Kỷ và Nguyễn Đình Tú là gì? Lê Tri Kỷ tiếp cận hiện thực bằng sự điềm đạm, nghiêm cẩn của một cán bộ lão thành với bút pháp cổ điển phương Tây chú trọng bài học nhân sinh; trong khi Nguyễn Đình Tú thể hiện sự táo bạo, sắc sảo của một sĩ quan trẻ am hiểu luật học, áp dụng kết cấu truyện lồng truyện và nhịp sống đô thị hiện đại đầy gai góc.

Luận văn đã tiến hành khảo sát nguồn tư liệu với quy mô như thế nào? Luận văn đã khảo sát toàn diện 19 tập truyện ngắn và tuyển tập xuất bản từ năm 1961 đến năm 2013 của 3 tác giả. Mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 7 tập sách của Lê Tri Kỷ, 9 truyện an ninh của Hữu Ước và 21 truyện chuyên đề của Nguyễn Đình Tú, đảm bảo tính đại diện khoa học tuyệt đối cho 3 thế hệ sáng tác.

Giá trị hiện thực của các truyện ngắn viết về tệ nạn xã hội được thể hiện ra sao? Các tác phẩm phản ánh chân thực các tệ nạn nguy hiểm như tham nhũng (trong Bí mật cho những cuộc đời), mại dâm và buôn người qua biên giới (trong Thúy, Đêm giông), hay thực trạng 700 cô gái kinh doanh thân xác tại bãi biển (trong Nàng tiên cá). Qua đó, truyện ngắn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự suy thoái đạo đức và tha hóa nhân cách.

Kết luận

Nghiên cứu về truyện ngắn đề tài an ninh xã hội của Lê Tri Kỷ, Hữu Ước và Nguyễn Đình Tú đã đúc kết được 5 đóng góp học thuật và giá trị cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử và diện mạo thể loại truyện ngắn an ninh xã hội Việt Nam từ năm 1961 đến năm 2015.
  • Làm sáng tỏ bức tranh hiện thực xã hội sinh động, đậm tính thời sự với các điểm nóng tham nhũng, ma túy, mại dâm trong 19 tập truyện.
  • Khẳng định bước chuyển dịch thi pháp sâu sắc từ hình tượng nhân vật một chiều sang nhân vật đa chiều giàu kịch tính nội tâm.
  • Định vị vai trò tiên phong và đóng góp văn học to lớn của 3 thế hệ tác giả thuộc lực lượng vũ trang đối với nền văn xuôi đương đại.
  • Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới mẻ giữa thi pháp học văn học, xã hội học và tội phạm học thực tiễn.

Công trình tạo tiền đề khoa học vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2026-2030 nhằm mở rộng khảo sát sang các thể loại ký và tiểu thuyết. Hãy khai thác nguồn tư liệu giá trị này để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và sáng tác văn học nghệ thuật ngay hôm nay.