CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý và trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Các nhà nước tiến bộ trên thế giới đều khẳng định một trong những nguyên tắc nền tảng để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, phát triển là “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”3.
Điều đó trước hết thể hiện ở sự bình đẳng trong việc tiếp cận, nắm bắt pháp luật, tiếp theo đó là sự bình đẳng trong tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế để đảm bảo nguyên tắc này, đặc biệt là sự bình đẳng trong tố tụng là vấn đề vô cùng phức tạp bởi mỗi người trong xã hội là một cá thể khác nhau về điều kiện, hoàn cảnh sống, về khả năng kinh tế, về trình độ, năng lực hiểu biết… Một điều chắc chắn rằng họ chỉ có thể thực hiện được quyền này trên thực tế khi có một mức độ hiểu biết pháp luật và khả năng kinh tế nhất định để chi trả các chi phí tố tụng. Vì vậy, người nghèo và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội sẽ rất khó thực hiện được các quyền tố tụng vì hầu hết trong số họ không hiểu biết nhiều về pháp luật nên không biết khởi kiện thế nào, khởi kiện ở đâu và cũng không có điều kiện kinh tế để theo kiện, hơn nữa họ càng không đủ hiểu biết để tự bào chữa cho chính mình. Điều đó cho thấy, người nghèo và các đối tượng yếu thế trong xã hội chỉ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp nếu được người có kiến thức pháp luật, có khả năng về kinh tế giúp đỡ.
Đây chính là cách mà các quốc gia can thiệp, giúp đỡ các đối tượng này để bảo đảm trên thực tế quyền được bình đẳng trước pháp luật của họ thông qua chế định về trợ giúp pháp lý (TGPL). Tuy nhiên trên thực tế, tùy thuộc vào các yếu tố truyền thống văn hóa, xã hội, pháp lý, các quốc gia trên thế giới có quan điểm không hoàn toàn giống nhau về TGPL. Một số nước coi TGPL là hoạt động mang tính từ thiện, nhân đạo. Bên cạnh đó, có nhiều nước coi TGPL là hoạt động thuộc lĩnh vực chính trị - pháp lý nhằm 3 Khởi nguồn của nguyên tắc này là khẩu hiệu “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế, về sau cùng với sự phát triển của quyền con người, khẩu hiệu này được mở rộng thành nguyên tắc “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận như là một trong những nguyên tắc cơ bản của quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân.
Ở Việt Nam, hiện nay nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 16, Hiến pháp năm 2013. 9 làm giảm bớt áp lực giàu, nghèo trong xã hội. Đồng thời, có nhiều nước coi TGPL là một trong các biện pháp bảo đảm nhân quyền cho các đối tượng không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận và sử dụng pháp luật, đặc biệt trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình4. Điểm qua các quy định về TGPL ở một số quốc gia chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.
Singapore quy định TGPL là việc đại diện cho khách hàng trước Tòa án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả các dịch vụ pháp lý (Điều 2, Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý 1995). Malaysia coi TGPL là hoạt động giúp đỡ pháp luật dành cho những đối tượng nhất định không có khả năng chi trả về tài chính (Đạo luật số 26 về Bảo trợ tư pháp – đã được sửa đổi, bổ sung năm 1992). Ở Thái Lan, TGPL được khẳng định là việc tư vấn và đưa ra ý kiến, soạn thảo các hợp đồng, cung cấp các dịch vụ pháp lý phục vụ hoạt động tranh tụng cho những người nghèo và người bị đối xử bất công (Đạo luật về Hành nghề luật B. Hoa Kỳ quy định TGPL là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người không thể đáp ứng được chi phí pháp lý6.
Như vậy, mặc dù các nước quan niệm về TGPL không hoàn toàn giống nhau nhưng xét về bản chất, họ đều coi TGPL là việc nhà nước và xã hội thực hiện việc giúp đỡ miễn phí về các dịch vụ pháp lý cho người nghèo, người yếu thế và những đối tượng đặc biệt khác để họ có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Tiếng Anh, TGPL là “legal aid”, hoặc legal aid trong cụm từ “legal aid scheme” được dịch là kế hoạch bảo hộ tư pháp, tức là kế hoạch nhằm trả những chi phí pháp lý từ công quỹ cho những ai không thể tự mình trả nổi7. Theo đó, nội hàm khái niệm TGPL được hiểu là việc giúp đỡ trả toàn bộ hoặc một phần chi phí các dịch vụ liên quan đến pháp luật cho những người không có điều kiện kinh tế từ ngân sách nhà nước. Như vậy, theo cách hiểu này thì nhiều nước trên thế giới đã tiếp cận TGPL dưới góc độ hẹp (kinh tế và nhân đạo), đặc biệt họ đã lấy tính yếu thế, bần cùng của người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương làm nền tảng cho hoạt động TGPL ra đời.
Ở Việt Nam, TGPL cũng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. 4 Tạ Thị Minh Lý (2005), “Bàn về khái niệm TGPL”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (10), tr. 5 Phan Thị Thu Hà (2006), “Trợ giúp pháp lý – quan niệm và mô hình ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (5), tr. 6 Phan Hòa Hiệp (2010), Quản lý nhà nước về TGPL – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 7 Nguyễn Thành Minh (chủ biên) (1998), Từ điển pháp luật Anh – Việt, NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 10 Theo nghĩa rộng, TGPL được coi là sự giúp đỡ miễn phí của nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số… tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa…) nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội8. Theo nghĩa hẹp, TGPL được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức TGPL cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác9.
Ngoài ra, TGPL còn được xem là việc giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người nghèo và đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước để họ có điều kiện tiếp cận, sử dụng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình10. Tuy nhiên, đặt trong tổng thể quy định của pháp luật nước ta về các biện pháp bảo đảm tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân thì các quan niệm nói trên về TGPL còn mang tính phiến diện, chưa thể hiện được đầy đủ nội hàm của “trợ giúp”, cũng như chưa chỉ ra thuộc tính bản chất của nó mà chỉ thể hiện khái niệm thông qua các hình thức biểu hiện bên ngoài. Theo từ điển Tiếng Việt, “trợ giúp” là sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến11 hoặc “trợ giúp” là góp sức, góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công12. Thuật ngữ “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật nói một cách khái quát; pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ 13.
Pháp luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để quản lý xã hội. Mọi tổ chức, cá nhân phải lấy pháp luật làm chuẩn mực để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Theo hướng tiếp cận này thì TGPL là việc tổ chức hoặc cá nhân thực hiện một dịch vụ pháp lý miễn phí, hoặc giảm phí so với giá trị thực của nó cho những người đang cần sự giúp đỡ về mặt pháp lý mà họ không thể tự thực hiện được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình14. 8 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1999), Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số 96-98- 034/ĐT, Hà Nội, tr.
9 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2004), Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng pháp lệnh trợ giúp pháp lý, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội, tr. 10 Dự thảo Pháp lệnh TGPL năm 2004. 11 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 12 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh.
13 Ngô Văn Thâu, Nguyễn Hữu Đắc, Lê Kim Quế, Nguyễn Hữu Viện, Lê Đức Tiết (1999), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 14 Tạ Thị Minh Lý (2005), tlđd (4), tr. 11 Theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” (Điều 3). Tuy nhiên, khái niệm về TGPL của Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 còn chưa khoa học, chưa khái quát được được ý nghĩa, vai trò nổi bật của hoạt động TGPL.
Từ các quan niệm và quy định của pháp luật nói trên về TGPL, chúng ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của hoạt động này, bao gồm: Thứ nhất, đối tượng mà hoạt động TGPL hướng tới là người nghèo, người DTTS, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội. Họ được thụ hưởng dịch vụ pháp lý mà không phải trả phí hoặc phải trả phí ít hơn giá trị thực của dịch vụ này.