Tổng quan nghiên cứu

Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) do Trung Quốc khởi xướng từ năm 2013 đã nhanh chóng trở thành một chiến lược mở cửa đối ngoại toàn cầu. Tính đến hết năm 2019, Trung Quốc đã ký kết 199 văn kiện hợp tác với 137 quốc gia và 30 tổ chức quốc tế, tạo ra tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại hàng hóa vượt 6.000 tỷ USD trong giai đoạn 2013-2018. Trong bối cảnh đó, quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc đứng trước những cơ hội lớn về kết nối kinh tế nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức phức tạp về an ninh, chủ quyền và cán cân thương mại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng triển khai hợp tác song phương trong khuôn khổ BRI từ năm 2013 đến năm 2019, từ đó nhận diện các động lực thúc đẩy và rào cản cản trở sự hợp tác này. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích cơ sở hình thành chính sách của hai nước; đánh giá khách quan các kết quả đạt được trên 5 trụ cột kết nối chính; nhận diện rủi ro chiến lược và dự báo triển vọng hợp tác trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian quan hệ song phương Việt - Trung và tiểu vùng Mê Công mở rộng trong mốc thời gian 6 năm từ khi sáng kiến ra đời đến năm 2019.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học giúp cơ quan quản lý kiểm soát hiệu quả cán cân thương mại song phương vốn đã vượt ngưỡng 100 tỷ USD, đồng thời tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hơn 1,755 tỷ USD từ các dự án năng lượng trọng điểm như Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 mà vẫn bảo đảm tự chủ kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng tổng hợp các lý thuyết nền tảng của ngành Quan hệ quốc tế để xây dựng góc nhìn đa chiều:

Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo được sử dụng để giải thích động lực hợp tác cùng có lợi, tự do hóa thương mại và vai trò của các thiết chế khu vực trong việc xây dựng lòng tin chính trị giữa hai quốc gia láng giềng.

Chủ nghĩa Hiện thực và Chủ nghĩa Mác-xít mới giúp bóc tách các mục tiêu địa chiến lược, cạnh tranh quyền lực nước lớn và cấu trúc bất bình đẳng Trung tâm - Ngoại vi. Các lý thuyết này làm rõ nguy cơ gia tăng mức độ phụ thuộc kinh tế của các nước vừa và nhỏ vào nền kinh tế lớn hơn.

Lý thuyết Trò chơi được áp dụng để phân tích các quyết định chiến lược và tính toán lợi ích tối ưu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong từng giai đoạn đàm phán cụ thể.

Khung phân tích của luận văn dựa trên 4 khái niệm cốt lõi: Kết nối Ngũ thông (bao gồm chính sách, cơ sở hạ tầng, thương mại, tài chính - tiền tệ và kết nối con người); Khuôn khổ Hai hành lang, một vành đai (TCOB); Bẫy nợ chiến lược; và An ninh kinh tế quốc gia. Các khái niệm này được liên kết chặt chẽ thông qua mô hình phân tích 4 cấp độ: cấp độ quốc tế, cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân ra quyết định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm cỡ mẫu tư liệu với hơn 320 văn kiện, báo cáo chuyên khảo, hiệp định song phương và các tài liệu chính thống bằng tiếng Việt và tiếng Trung do cơ quan nhà nước hai nước công bố giai đoạn 2013-2019. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu có chủ đích dựa trên tiêu chí tính xác thực pháp lý, thẩm quyền ban hành và mức độ tác động trực tiếp đến tiến trình đàm phán kết nối TCOB - BRI.

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, so sánh lịch sử, phân tích chính sách và phương pháp Truy nguyên tiến trình (Process Tracing). Việc lựa chọn phương pháp Process Tracing cho phép tác giả bóc tách từng chuỗi sự kiện ra quyết định của các chủ thể từ năm 2013 đến năm 2019. Phương pháp này hỗ trợ làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chuyển biến trong thái độ tiếp cận chính sách của Việt Nam đối với các sáng kiến hợp tác hạ tầng và tài chính của Trung Quốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết nối chính sách có bước chuyển biến thực chất từ sự dè dặt ban đầu sang cam kết có nguyên tắc. Đỉnh điểm là việc hai nước ký kết Bản ghi nhớ về thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, một vành đai và Sáng kiến Vành đai và Con đường vào tháng 11/2017, tạo hành lang pháp lý chính thức cho các dự án chung.

Thứ hai, hạ tầng thương mại biên giới và logistics ghi nhận bước nhảy vọt về lưu lượng thông quan. Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, lượng phương tiện vận tải hàng hóa qua lại tăng từ mức khoảng 300 xe/ngày lên tới 1.300 xe/ngày; tổng khối lượng vận chuyển năm 2018 đạt 350.000 TEU, tăng hơn 90% so với giai đoạn trước. Đồng thời, kim ngạch thương mại điện tử xuyên biên giới giữa hai nước tăng trưởng mạnh mẽ, được thúc đẩy nhờ dòng vốn 1 tỷ USD của Alibaba vào Lazada năm 2016 và 500 triệu USD của Tencent sở hữu 40% cổ phần Shopee năm 2017.

Thứ ba, kết nối cơ sở hạ tầng và năng lượng ghi nhận quy mô đầu tư lớn nhưng đi kèm nhiều hệ lụy kỹ thuật và xã hội. Dự án Nhà máy nhiệt điện BOT Vĩnh Tân 1 có tổng vốn 1,755 tỷ USD, công suất 1.200 MW cung cấp 7,2 tỷ kWh điện mỗi năm là điểm sáng về hiệu quả vận hành. Ngược lại, dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông dài 13 km bị đội vốn từ 552,86 triệu USD lên 868 triệu USD, đạt 99% khối lượng xây dựng nhưng liên tục chậm tiến độ bàn giao do vướng mắc trong khâu kiểm định an toàn và nghiệm pháp kỹ thuật của tổng thầu EPC.

Thứ tư, hợp tác tài chính - tiền tệ còn ở mức độ thận trọng cao. Việt Nam chủ động kiểm soát chặt chẽ việc tiếp cận các khoản vay ưu đãi từ Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) và Quỹ Con đường Tơ lụa nhằm giảm thiểu rủi ro nợ công.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những kết quả trên bắt nguồn từ sự bất đối xứng về lợi ích chiến lược: Trung Quốc ưu tiên giải tỏa năng lực sản xuất dư thừa và mở rộng tầm ảnh hưởng địa chính trị, trong khi Việt Nam đặt trọng tâm vào việc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững chủ quyền biển đảo và cân bằng quan hệ quốc tế. Dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng kim ngạch mậu dịch biên giới qua từng năm và bảng ma trận SWOT đối chiếu cơ hội kinh tế với rủi ro chuyển giao công nghệ.

So với các nghiên cứu quốc tế về mô hình cho thuê cảng biển 99 năm tại Sri Lanka hay các dự án hạ tầng bị đình trệ ở Malaysia, luận văn khẳng định Việt Nam đã duy trì thành công chiến lược tiếp cận thận trọng có chọn lọc. Cách tiếp cận này vừa tận dụng được nguồn lực từ thị trường láng giềng hơn 1,4 tỷ dân, vừa bảo toàn tính độc lập tự chủ trong chính sách đối ngoại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải trong giai đoạn 2020-2025 ban hành bộ quy chuẩn khắt khe về công nghệ, môi trường và định mức suất đầu tư. Mục tiêu đặt ra là 100% các dự án hạ tầng sử dụng vốn vay nước ngoài phải áp dụng công nghệ tiên tiến, hạn chế tối đa rủi ro phát sinh tổng thầu EPC đội vốn vượt quá 15% tổng mức đầu tư ban đầu.

Thứ hai, đa phương hóa cấu trúc tài chính và kiểm soát nợ công an toàn. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần thiết lập cơ chế giám sát nguồn vốn đa chiều trong lộ trình 2021-2026, kết hợp hài hòa nguồn vốn giữa AIIB, ADB và Ngân hàng Thế giới (WB). Chỉ tiêu cụ thể là khống chế tỷ trọng vay nợ đơn phương từ các quỹ tài chính liên quan đến BRI ở mức dưới 20% tổng dư nợ ODA quốc gia.

Thứ ba, nâng cấp đồng bộ hạ tầng cửa khẩu và đẩy mạnh hiện đại hóa thông quan điện tử. Tổng cục Hải quan phối hợp với Ủy ban nhân dân 7 tỉnh biên giới phía Bắc trong giai đoạn 2020-2023 triển khai toàn diện mô hình Một cửa, một lần dừng tại cặp cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan và Móng Cái - Đông Hưng. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý thủ tục thông quan xuống dưới 30 phút cho mỗi phương tiện vận tải.

Thứ tư, giám sát chặt chẽ an ninh kinh tế gắn liền với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng duy trì cơ chế rà soát định kỳ 100% các dự án hợp tác đầu tư tại các địa bàn ven biển và khu vực phòng thủ chiến lược giai đoạn 2020-2030, kiên quyết không cấp phép cho các dự án tiềm ẩn nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách ngoại giao và thương mại thuộc Bộ Ngoại giao và Bộ Công thương. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng chiến lược đàm phán kinh tế song phương, bảo vệ lợi ích quốc gia và kiểm soát cán cân thương mại trong các hiệp định kết nối liên vùng.

Nhóm thứ hai là các chuyên gia phân tích kinh tế, học giả và viện nghiên cứu chiến lược quốc tế. Luận văn cung cấp khung lý thuyết kết hợp giữa Chủ nghĩa Hiện thực và phương pháp Truy nguyên tiến trình, giúp ích cho việc phân tích sự chuyển dịch địa chính trị tại khu vực Đông Nam Á.

Nhóm thứ ba là cộng đồng doanh nghiệp logistics, xuất nhập khẩu và đầu tư hạ tầng. Doanh nghiệp có thể khai thác các dữ liệu thực chứng về tuyến hành lang vận tải đường sắt Trùng Khánh - Hà Nội dài 45 giờ và mạng lưới chuỗi cung ứng lạnh kết nối 9 đô thị lớn để tối ưu hóa chi phí vận chuyển hàng hóa.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Kinh tế quốc tế và Quốc tế học. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích 4 cấp độ và kỹ năng xử lý hệ thống tư liệu song ngữ chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Sáng kiến Vành đai và Con đường tác động như thế nào đến hạ tầng giao thông Việt Nam? Sáng kiến thúc đẩy việc nâng cấp các tuyến kết nối đường bộ và đường sắt liên vận như tuyến Nam Ninh - Hà Nội dài hơn 119 km và tuyến đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái. Tuy nhiên, các dự án có vốn vay từ Trung Quốc như tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông dài 13 km với 12 nhà ga cũng bộc lộ rủi ro về tiến độ và thủ tục bàn giao.

Đâu là sự khác biệt cốt lõi giữa khuôn khổ Hai hành lang, một vành đai (TCOB) và BRI? TCOB là sáng kiến do Việt Nam chủ động đề xuất từ năm 2004 với phạm vi giới hạn tại 5 tỉnh thành Việt Nam và 4 địa phương Trung Quốc nhằm phát triển kinh tế khu vực biên giới. Trong khi đó, BRI là đại chiến lược toàn cầu do Trung Quốc dẫn dắt với 199 thỏa thuận quốc tế, mang tham vọng tái định hình cấu trúc thương mại và chuỗi cung ứng thế giới.

Việt Nam áp dụng giải pháp nào để ngăn ngừa rủi ro bẫy nợ trong hợp tác cơ sở hạ tầng? Việt Nam chủ động áp dụng cơ chế sàng lọc nghiêm ngặt các khoản vay, đa phương hóa nguồn vốn từ nhiều định chế quốc tế và từ chối các điều khoản vay thế chấp tài sản chiến lược. Bài học chuyển giao quyền khai thác cảng biển 99 năm tại Sri Lanka là cơ sở thực tiễn để Việt Nam giữ trần an toàn nợ công đối với các dự án hạ tầng lớn.

Sự thâm nhập của dòng vốn thương mại điện tử Trung Quốc tạo ra áp lực gì cho doanh nghiệp nội địa? Việc các tập đoàn công nghệ lớn thâu tóm cổ phần chi phối trên 40% tại các sàn giao dịch hàng đầu Việt Nam giúp thúc đẩy nhanh kinh tế số nhưng cũng tạo sức ép cạnh tranh khốc liệt lên các nhà sản xuất vừa và nhỏ trong nước do dòng hàng hóa giá rẻ tràn qua biên giới.

Yếu tố tranh chấp chủ quyền Biển Đông chi phối thế nào đến tiến trình kết nối kinh tế song phương? Sự thiếu hụt lòng tin chiến lược bắt nguồn từ các hành động quân sự hóa trên Biển Đông khiến Việt Nam luôn duy trì trạng thái thận trọng cao độ, đặc biệt trong các dự án đầu tư cảng biển và cơ sở hạ tầng ven biển chiến lược.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ hợp tác Việt - Trung trong khuôn khổ sáng kiến BRI giai đoạn 2013-2019.

Thứ hai, công trình làm rõ bức tranh thực trạng trên 5 trụ cột kết nối Ngũ thông, chỉ ra sự đan xen phức tạp giữa cơ hội mở rộng thị trường và thách thức an ninh, công nghệ.

Thứ ba, nghiên cứu đóng góp bộ dữ liệu thực chứng phong phú được trích xuất từ hơn 320 nguồn tư liệu chính thống song ngữ Việt - Trung, bảo đảm tính khách quan khoa học.

Thứ tư, đề tài xác lập khung giải pháp và lộ trình thực thi đến năm 2030 giúp Việt Nam chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn kiểm soát tốt các rủi ro chiến lược.

Thứ năm, các cơ quan ban ngành cần sớm hiện thực hóa các khuyến nghị chính sách về hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật và đa dạng hóa nguồn vốn nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và giữ vững chủ quyền quốc gia.