mở đầu cho các công trình nghiên cứu trí tuệ cảm xúc sau này. Bài nghiên cứu của tiến sĩ Trần Thị Thu Mai, giảng viên trường Đai học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh về đề tài: trí tuệ cảm xúc của học sinh trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh được đăng trên tạp chí khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 8, 2013, cho thấy mức độ trí tuệ cảm xúc nói chung của sinh viên hầu hết ở mức trung bình. Đa số sinh viên có biểu hiện trí tuệ cảm xúc chưa đồng đều giữa các mặt, có mặt biểu hiện trí tuệ chiến lược cảm xúc thấp hơn so với mặt biểu hiện trí tuệ trải nghiệm cảm xúc. Đặc biệt là hầu hết sinh viên đều có biểu hiện trí tuệ cảm xúc ở mặt nhận biết cảm xúc và hiểu biết cảm xúc ở mức cao hơn mặt biểu hiện cảm xúc hóa tư duy và điều khiển, quản lí cảm xúc.
Trong những năm gần đây, vấn đề trí tuệ cảm xúc được nghiên cứu nhiều hơn ở những cấp độ khác nhau và đã đạt được kết quả nhất định, chẳng hạn: luận văn thạc sĩ của Dương Thị Hoàng Yến (2004), luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (2007), … Các 12 đề tài này phần lớn tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của giáo viên trong hoạt động chủ nhiệm lớp. Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Trọng Nam (2004) và Nguyễn Thị Tuấn Anh (năm 2008) tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của đối tượng là sinh viên sư phạm, Lê Hồng Lợi nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Nghệ An và nhiều công trình nghiên cứu khác Ngoài ra còn một số sông trình nghiên cứu khác về trí tuệ cảm xúc tập trung chủ yếu trên đối tượng là sinh viên. Như vậy, có thể nói rằng những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về trí tuệ cảm xúc tuy chưa nhiều nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, các đề tài về trí tuệ cảm xúc chưa quan tâm nhiều đến đối tượng học sinh trung học phổ thông.
Vì vậy, nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học phổ thông là việc làm cần thiết. Đặc biệt vấn đề trí tuệ cảm xúc của học sinh trường trung học phổ thông Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng đã được nghiên cứu nhưng chưa nhiều. Hiểu được những vấn đề đó, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “thực trạng trí tuệ cảm xúc của học sinh trường trung học phổ thông Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng” từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc của học sinh trường trung học phổ thông Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng, góp phần vào sự thành công của các em trong tương lai.2 Một số khái niệm liên quan 1.1 Trí tuệ Khái niệm Trong từ điển Tiếng Việt: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định [16]. Trong từ điển tâm lý: Trí tuệ là khả năng hành động thích nghi với biến động của hoàn cảnh thiên về tư duy trừu tượng [9].
Trong tiếng La tinh: Trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là trí năng sắc sảo, sự hiểu biết chu đáo [5, tr.7] Cho đến nay, trong Tâm lý học có rất nhiều định nghĩa về trí tuệ tùy theo cách tiếp cận. Nhìn chung trí tuệ được hiểu theo hai quan niệm: quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại. Trí tuệ theo quan niệm truyền thống Điểm chung của quan niệm truyền thống là đồng nhất trí tuệ với trí thông minh (intelligence). Freeman (1963), trong vô số các định nghĩa về trí tuệ, có thể thấy rõ có 3 loại: thứ nhất, xem trí tuệ là năng lực học tập; thứ hai, xem trí tuệ là năng 13 lực tư duy trừu tượng; thứ ba, xem trí tuệ là năng lực thích ứng cá nhân.
Nhóm quan điểm xem trí tuệ là năng lực học tập Nhà tâm lý học người Nga B. Ananhev xem trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó. Bogoxlovki và những người khác (1973) xem hệ thống những thuộc tính trí tuệ của nhân cách đảm bảo cho sự tương đối dễ dàng trong việc nắm các tri thức, được hiểu là các năng lực chung [Dẫn theo 14]. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy giữa học tập (đặc biệt là kết quả học tập) với khả năng trí tuệ của cá nhân có mối quan hệ nhân quả và chúng không đồng nhất.
Trên thực tế, phần lớn học sinh có chỉ số IQ cao thì kết quả học tập cũng cao, song cũng có những học sinh có chỉ số IQ cao nhưng kết quả học tập lại không cao. Điều này có thể giải thích bằng nhiều lý do như động cơ học tập, ý chí, hứng thú, cách học…Chính A. Binet đã nghiên cứu và chứng minh được những học sinh học kém là do khả năng trí tuệ và những em do lười hoặc những nguyên nhân khác [Dẫn theo 14]. Nhóm quan điểm xem trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng L.Terman (1937) cho rằng trí tuệ là năng lực phát triển tư duy trừu tượng.
Theo cách hiểu như vậy thì chức năng của trí thông minh là sử dụng có hiệu quả các khái niệm và tượng trưng. Menchinskaia xem đặc trưng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ để con người tiếp thu được tri thức [Dẫn theo 14]. Theo cách hiểu này, trí tuệ tức là khả năng sử dụng có hiệu quả các thao tác tư duy để giải quyết các vấn đề đặt ra. Trong khi đó, tư duy chỉ là một thành phần, một bộ phận của trí tuệ.
Quan niệm như vậy đã thu hẹp nội hàm lẫn hình thức của trí tuệ. Nhóm quan niệm xem trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân Đây là quan niệm phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành, D. Piaget xem bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu tạo những mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể. Ông cũng cho rằng bất kỳ trí tuệ nào cũng đều là một sự thích ứng [Dẫn theo 14].
Theo cách tiếp cận này, trí tuệ được thể hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể và môi trường. Tuy nhiên sự tác động qua lại đó phải được xem xét như là một sự thích 14 ứng tích cực, có hiệu quả nhằm cải tạo môi trường cho phù hợp với mục đích của con người, chứ không phải là sự thích ứng thụ động đơn giản. Nhìn chung, các quan điểm trên không loại trừ lẫn nhau mà do cách tiếp cận khác nhau trong việc lựa chọn dấu hiệu quan trọng nhất của trí tuệ. Các quan niệm này còn có một điểm chung là đã đồng nhất trí tuệ với trí thông minh.
Nhưng rõ ràng không một định nghĩa nào trong các định nghĩa trên chứa đựng được hết bản chất của hiện tượng tâm lý phức tạp như trí tuệ của con người. Do vậy, có thể xem những quan niệm trên đây là những quan niệm truyền thống về trí tuệ. Những quan niệm này là nền tảng cho sự ra đời của quan niệm hiện đại về trí tuệ. Trí tuệ theo quan niệm hiện đại Ngày nay, việc nghiên cứu trí tuệ dưới sự kết hợp các khoa học như: Di truyền học, Thần kinh học, Công nghệ thông tin…đã đem lại một cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn.
Từ đó, các nhà tâm lý học cũng thừa nhận trí tuệ là một hiện tượng tâm lý xã hội mang bản chất lịch sử xã hội chứ không phải là cơ cấu khép kín, không thay đổi và có tính bẩm sinh di truyền. Mặt khác, các nhà nghiên cứu có xu hướng cho rằng có nhiều loại trí tuệ khác nhau và trí tuệ theo cách hiểu như vậy được biểu thị bởi thuật ngữ Wisdom. Các nhà tâm lý học như: Hofstatter (1971), Sterberg và Gardner (1984) khẳng định trí tuệ phải có cơ sở và gắn liền với thực tiễn. Trí tuệ theo quan niệm mới không chỉ thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ có tính hàn lâm mà còn thể hiện ở việc giải quyết các tình huống trong đời sống hàng ngày.
Trí tuệ chính là kết quả tương tác giữa con người với môi trường sống đồng thời trí tuệ cũng là tiền đề cho sự tương tác đó. Theo Neisse (1976), nếu đặt trí tuệ hàn lâm (academic intelligence) vào điều kiện tự nhiên thì sẽ có một dạng trí tuệ khác được thể hiện khi thực hiện các tình huống đời thường. Cho đến 1990, Amelang và Bartussek gọi dạng trí tuệ này là trí tuệ thực tiễn (practical intelligence). Con người luôn sống và hoạt động trong mối tương tác với người khác, với cộng đồng, với các nhóm khác nhau, Vì vậy, nếu con người chỉ trang bị cho bản thân những tri thức trường học, tư duy logic, trí nhớ hay trí sáng tạo thì chưa đủ để hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn.
Do vậy, ngoài trí thông minh và trí sáng tạo, con người còn cần phải có trí tuệ xã hội (Social Intelligence = SI). Trí tuệ xã hội là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác. Nó diễn ra trong 15 hoạt động cùng người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã hội nhất định. Trí tuệ xã hội được tạo nên bởi ba thành tố sau đây, trong đó trí tuệ cảm xúc là hạt nhân: - Tự nhận thức về bản thân - Năng lực xã hội (social competence) bao gồm ba tiểu thành tố: + Nhận thức (cognitive) + Xúc cảm (emotion) + Vận động (motorie) - Trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn tiểu thành tố: + Tri giác (nhận ra) cảm xúc + Khả năng biểu hiện cảm xúc + Điều khiển có hiệu quả cảm xúc (của mình và của người khác) + Sử dụng những thông tin có liên quan đến cảm xúc để thúc đẩy, đặt kế hoạch và thực hiện có kết quả những hành động nhất định.
Eysenck đã đưa ra mô hình trí tuệ ba tầng bậc dựa trên sự kế thừa, phát triển quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại: + Trí tuệ sinh học (biological intelligence) là mặt sinh học của năng lực trí tuệ và là một nguồn gốc của những khác biệt về trí tuệ cá nhân. + Trí tuệ tâm trắc (psychoetric intelligence) hay trí tuệ hàn lâm là mặt trí tuệ được đo bằng các trắc nghiệm IQ, CQ (Creative Quotient: chỉ số sáng tạo) truyền thống được xây dựng trong tình huống giả định, có tính hàn lâm chưa phải là tình huống thực trong cuộc sống. Nó bao gồm trí tuệ hàn lâm, trí thông minh hay năng lực nhận thức và sáng tạo.