Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Kiều Nga thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Lan Oanh, bảo vệ năm 2025 tại Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian, mã số 9229041.
Về tính cấp thiết, dự án Thủy điện Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19/4/2002 và Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg, với diện tích vùng ngập lòng hồ gần 15.000 km², tác động di dời dân cư tại 75 bản làng thuộc 15 xã của 3 huyện Na Hang (Tuyên Quang), Ba Bể (Bắc Kạn) và Bắc Mê (Hà Giang), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 89,8%. Trải qua hơn 20 năm thực hiện chương trình di dân, đời sống cư dân đã dần ổn định về mặt cơ sở vật chất. Tuy nhiên, việc rời bỏ địa bàn cư trú truyền thống ở vùng núi cao để chuyển về các điểm tái định cư mới đã tạo ra những đứt gãy sinh thái - xã hội sâu sắc. Tri thức dân gian vốn được hình thành, tích lũy qua nhiều thế hệ để thích ứng với môi trường tự nhiên nguyên bản nay đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về sinh kế hoặc văn hóa của cộng đồng người Dao sở tại, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và mang tính hệ thống về các thực hành tri thức dân gian cùng sự biến đổi thích ứng của người Dao Đỏ di dời từ vùng lòng hồ đến các điểm tái định cư mới tại tỉnh Tuyên Quang.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá vai trò của tri thức dân gian đối với đời sống cộng đồng người Dao Đỏ trước và sau tái định cư; lý giải nguyên nhân và tiến trình biến đổi, thích ứng của hệ thống tri thức này dưới tác động của môi trường sinh thái và vai trò của chủ thể văn hóa; từ đó nhận diện những vấn đề đang đặt ra và trao đổi các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Tổng quan nguồn tài liệu thứ cấp nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu; làm rõ các khái niệm công cụ, cơ sở lý luận; khái quát đặc điểm lịch sử, sinh kế và văn hóa của người Dao Đỏ vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang.
- Phân tích các thực hành tri thức dân gian của người Dao Đỏ trước và sau di dân, xác định chiều hướng biến đổi, thích ứng và đánh giá vai trò của tri thức đối với đời sống tộc người.
- Bàn luận về các yếu tố tác động và những vấn đề đặt ra đối với tri thức dân gian của người Dao Đỏ trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và điều kiện cụ thể của địa phương.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:
- Trước di dân, tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang được thực hành như thế nào?
- Tri thức dân gian của người Dao Đỏ được thực hành và biến đổi như thế nào trong bối cảnh tái định cư?
- Tri thức dân gian có vai trò như thế nào đối với đời sống của người Dao Đỏ trước và sau tái định cư?
- Những yếu tố tác động đến sự biến đổi tri thức dân gian và những vấn đề hiện tại mà tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng tái định cư đang đối mặt là gì?
- Cần có những giải pháp gì để duy trì và phát huy tốt tri thức dân gian của người Dao Đỏ trong điều kiện hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án bao gồm ba điểm chính:
- Trước khi di dân, người Dao Đỏ sở hữu một kho tàng tri thức dân gian phong phú gắn liền với tập quán vùng núi cao, giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng.
- Tại các điểm tái định cư, tri thức dân gian của người Dao Đỏ bị mai một nhiều hơn là được bảo vệ; sự biến đổi này là kết quả tổng hòa của chính sách Nhà nước, điều kiện tự nhiên mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giao lưu văn hóa và sự lựa chọn chủ động của chính cộng đồng để thích ứng.
- Tri thức dân gian của người Dao Đỏ đang đối diện với nguy cơ suy giảm nhiều giá trị, làm phai nhạt dần bản sắc văn hóa tộc người.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính là tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang, trọng tâm là sự biến đổi và thích ứng trong các thực hành tri thức trước và sau khi chuyển đến nơi ở mới, cùng môi trường tự nhiên, xã hội và đời sống kinh tế, văn hóa liên quan. Phạm vi không gian được giới hạn tại các thôn tái định cư thuộc xã Trung Hà, xã Tân Mỹ (huyện Chiêm Hóa) và xã Phúc Sơn (huyện Lâm Bình), tỉnh Tuyên Quang. Phạm vi thời gian kéo dài từ năm 2002 (thời điểm bắt đầu cuộc di dân) cho đến thời điểm khảo sát nghiên cứu (năm 2024 - 2025). Phạm vi nội dung tập trung vào ba thành tố tri thức cơ bản: tri thức trong sản xuất nông nghiệp; tri thức trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tri thức trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh bằng thuốc Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo từng nhóm chủ đề học thuật:
Về tình hình nghiên cứu lý luận tri thức dân gian, thuật ngữ tri thức bản địa lần đầu xuất hiện trong ấn phẩm của Robert Chambers (1979), sau đó được Brokensha và D. Warren (1980) tiếp tục phát triển. D. Warren định nghĩa tri thức bản địa là hệ thống tri thức và thực nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể gắn với nền văn hóa chuyên biệt. Kothari (Ấn Độ) phân tích tính chất truyền khẩu và sự biểu đạt của tri thức truyền thống qua nghi lễ, tập tục và phương thức ứng xử sinh thái. Tại Việt Nam, từ giữa thập niên 1990, các công trình tiếp cận có hệ thống về vấn đề này bắt đầu phát triển mạnh: Ngô Đức Thịnh (1995) với "Tri thức dân gian và phát triển"; Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998) với "Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên"; Phạm Quang Hoan (2003) với "Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam"; Trần Hữu Sơn (2017) với "Ứng xử với môi trường tự nhiên của người Dao vùng Tây Bắc"; Bùi Hoài Sơn (2010), Trương Thị Cẩm Vân (2013), Vũ Trường Giang (2012, 2013) và Nguyễn Ngọc Thanh (2016, 2023). Các tác giả cơ bản đồng thuận rằng các khái niệm tri thức bản địa, tri thức địa phương và tri thức dân gian có nội hàm tương đương, phản ánh kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Một số công trình đi sâu vào từng tộc người và từng thành tố chuyên biệt như Lương Văn Thiết (người Thái ở Nghệ An), Mai Văn Tùng (người Mường ở Thanh Hóa), Dương Tuấn Nghĩa (người Hà Nhì Đen ở Lào Cai), Nguyễn Thẩm Thu Hà (người Sán Dìu ở Tuyên Quang).
Về nghiên cứu tộc người Dao và nhóm Dao Đỏ, các ghi chép sớm nhất xuất hiện từ thời phong kiến qua tác phẩm Kiến văn tiểu lục (1778) của Lê Quý Đôn khi mô tả về các nhóm người Mán ở Tuyên Quang, tiếp đó là Hoàng Bình Chính (1778) trong Hưng Hóa xứ - phong thổ lục và Phạm Thận Duật (1856) trong Hưng Hóa ký lược. Đến thập niên 1960 - 1970, các nhà dân tộc học như Mạc Đường, Trần Quốc Vượng, Phan Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn công bố nhiều nghiên cứu xác minh tên gọi, nguồn gốc và phân loại ngành Dao. Đáng chú ý là công trình chuyên khảo dân tộc chí Người Dao ở Việt Nam (1971) của nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung và Nguyễn Nam Tiến. Hội thảo quốc tế năm 1995 tại Thái Nguyên và Hội thảo quốc gia năm 2017 tại Tuyên Quang đã cung cấp nhiều tư liệu về sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người. Các công trình của Hà Thị Thu Thủy và Dương Quỳnh Phương (Thái Nguyên), Phạm Công Hoan (Sơn La và Lào Cai), Nguyễn Ngọc Thanh (về tài nguyên thiên nhiên năm 2016 và 2023), Trần Hồng Hạnh, Bùi Minh Hào, Lê Văn Hưng, Nguyễn Thị Thảo, Trần Quốc Toản, Trần Văn Ơn, Trần Công Khánh, Vũ Thị Trang tại Sa Pa (Lào Cai) đã mô tả nhiều khía cạnh về cây thuốc, tập quán hái lượm và ứng xử môi trường của người Dao Đỏ.
Về nghiên cứu tại địa bàn Tuyên Quang và khu vực di dân tái định cư, các công trình đáng chú ý gồm: sách chuyên khảo của Nịnh Văn Độ (chủ biên) về các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang; ấn phẩm của Bảo tàng các dân tộc Việt Nam về văn hóa phi vật thể vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang; loạt bài viết của Triệu Thị Nhất về biến đổi văn hóa vật chất của người Dao di dời từ xã Trùng Khánh (Na Hang) sang xã Hoàng Khai (Yên Sơn). Tại xã Phúc Sơn (huyện Chiêm Hóa, nay thuộc Lâm Bình), có các nghiên cứu của Lê Hải Đăng và Phạm Thị Thu Hà về tri thức quản lý rừng, Nguyễn Trường Giang về canh tác nương, Nguyễn Thị Tám về quan niệm sức khỏe. Đáng chú ý, công trình của Trần Văn Bình (chủ biên) thuộc đề tài NAFOSTED đã phân tích sự biến đổi sinh kế và thích ứng văn hóa của cộng đồng người Dao vùng lòng hồ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các nghiên cứu trước đây tại Tuyên Quang hoặc chỉ tập trung vào nhóm cư dân Dao sở tại (như trường hợp thôn Tầng, xã Phúc Sơn), hoặc tiếp cận biến đổi sinh kế chung dưới góc độ xã hội học và nhân học kinh tế. Chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu, có hệ thống về toàn bộ diện mạo, thực hành và sự biến đổi của tri thức dân gian ở cả ba lĩnh vực (nông nghiệp; quản lý tài nguyên thiên nhiên; y dược học dân gian) của nhóm người Dao Đỏ di dời trực tiếp từ xã Xuân Tiến, Xuân Tân về các điểm tái định cư xã Phúc Sơn, Trung Hà và Tân Mỹ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa các khái niệm công cụ, hai lý thuyết nền tảng và phương pháp tiếp cận chuyên ngành.
Hệ thống khái niệm công cụ được vận dụng bao gồm:
- Tri thức dân gian: Toàn bộ kinh nghiệm, hiểu biết của con người về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và bản thân, được hình thành và tích lũy trong lịch sử lâu dài của cộng đồng thông qua trải nghiệm thực tế trong lao động sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trường, được lưu truyền qua trí nhớ và thực hành xã hội.
- Văn hóa tộc người: Toàn bộ những sáng tạo vật chất và tinh thần do một cộng đồng tộc người tạo ra trong quá trình sinh tồn, phát triển gắn bó với môi trường, được các thành viên cộng đồng thừa nhận dựa trên ba tiêu chí cơ bản: tiếng nói, đặc điểm sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác tộc người.
- Biến đổi văn hóa: Sự thay đổi làm cho các mô hình ứng xử, niềm tin và cấu trúc văn hóa trở nên khác trước dưới tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và giao lưu văn hóa.
- Thích ứng văn hóa: Quá trình cộng đồng người biến đổi các hành vi, tập quán và tri thức để phù hợp với hoàn cảnh sống mới, bao gồm việc chủ động tận dụng các thuận lợi và đối phó với những khó khăn của môi trường tự nhiên và xã hội mới.
- Vùng tái định cư và điểm tái định cư: Khu vực địa lý và các cụm dân cư cụ thể do Nhà nước quy hoạch, tổ chức để tiếp nhận, ổn định đời sống cho các hộ dân phải di chuyển chỗ ở phục vụ công trình thủy điện Tuyên Quang.
Về lý thuyết nghiên cứu:
- Thuyết Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology): Đại diện bởi Julian Steward và Leslie White. Lý thuyết này xem xét văn hóa là hệ thống thích nghi của con người với môi trường tự nhiên cụ thể và quá trình tiến hóa văn hóa mang tính đa tuyến. Trong luận án, lý thuyết này được sử dụng làm khung giải thích nguyên nhân biến đổi tri thức dân gian của người Dao Đỏ khi không gian sinh thái thay đổi căn bản từ vùng rừng núi cao lòng hồ sang vùng thung lũng, bán sơn địa tại các điểm tái định cư.
- Thuyết Chức năng (Functionalism): Kết hợp quan điểm của Bronislaw Malinowski và A. Radcliffe-Brown. Luận án đặc biệt vận dụng hướng chức năng tâm lý học của Malinowski, cho rằng các thiết chế và thực hành văn hóa tồn tại nhằm đáp ứng 7 nhu cầu cơ bản của con người (dinh dưỡng, tái sản xuất, thể xác, an toàn, nghỉ ngơi, di chuyển, tăng trưởng). Lý thuyết này giúp làm rõ các thực hành tri thức về nông nghiệp, cây thuốc, nghi lễ nguồn nước đang đáp ứng các nhu cầu sinh tồn, tâm lý và xã hội nào của người Dao Đỏ ở nơi ở mới.
Cách tiếp cận của đề tài gồm cách tiếp cận hệ thống (coi văn hóa dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp theo quan điểm của Ngô Đức Thịnh) và cách tiếp cận nhân học văn hóa / chủ thể - tiếng nói của người trong cuộc.
Các phương pháp nghiên cứu thực địa và phân tích bao gồm:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, đối sánh các số liệu thống kê, văn bản chính sách, công trình dân tộc chí và báo cáo kinh tế - xã hội địa phương.
- Phương pháp quan sát tham dự: Tác giả điền dã trong hơn 10 năm tại các xã Phúc Sơn, Trung Hà, Tân Mỹ với các đợt kéo dài từ 4 đến 8 ngày; tham gia trực tiếp vào hoạt động làm men lá (thôn Phiêng Tạ), lễ cúng giải hạn (thôn Nà Giàng), thu hái cây thuốc quanh vườn, cách thức chữa bệnh bằng đốt bấc, canh tác lúa, ngô và các nghi lễ vòng đời.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện với các chuyên gia nghiên cứu văn hóa Dao, người cao tuổi, trưởng họ, cán bộ thôn, thầy cúng, người làm nghề bốc thuốc Nam (bà CTM, bà PTP), phụ nữ và thanh niên; kết hợp phỏng vấn hồi cố để khôi phục ký ức văn hóa trước năm 2002.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Thực hiện cuộc thảo luận nhóm với 4 nam giới (40 đến gần 70 tuổi, gồm người am hiểu phong tục, 2 thầy cúng và người dân) về luật tục, thần rừng, nguồn nước; cuộc thảo luận thứ hai với 5 phụ nữ (45 đến 70 tuổi) về việc nhận diện cây thuốc và tủ thuốc dân gian của bà CTM.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh thực hành tri thức trước và sau di dân; so sánh giữa các điểm tái định cư có cự ly khác nhau; so sánh dữ liệu thực địa với các nghiên cứu giai đoạn trước.
| Hạng mục phương pháp |
Địa bàn / Đối tượng cụ thể |
Dữ liệu và nội dung ghi nhận |
| Quan sát tham dự |
Thôn Phiêng Tạ (Phúc Sơn), Nà Giàng (Tân Mỹ), các thôn tại Trung Hà |
Quan sát kỹ thuật làm men lá, cúng giải hạn, chữa bệnh đốt bấc, thu hái lâm sản |
| Phỏng vấn sâu |
Thầy cúng, người bốc thuốc (bà PTP, CTM), người cao tuổi, cán bộ thôn |
Thu thập thông tin hồi cố về vùng hồ cũ, kỹ thuật trị bệnh, bài thuốc nam, lễ tục |
| Thảo luận nhóm |
Nhóm nam giới (4 người); Nhóm phụ nữ (5 người) |
Thảo luận luật tục bảo vệ rừng, nguồn nước; nhận diện thành phần cây thuốc vườn |
| Phương pháp so sánh |
Giữa quê cũ (Na Hang) và 3 xã tái định cư (Phúc Sơn, Tân Mỹ, Trung Hà) |
Xác định danh mục tri thức duy trì, biến đổi, mai một và các kỹ thuật mới tiếp thu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về người Dao Đỏ vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang
Chương này trình bày cơ sở lý luận, tổng quan lịch sử nghiên cứu và khái quát bối cảnh địa bàn, tộc người. Dự án thủy điện Tuyên Quang yêu cầu di chuyển 4.630 hộ dân (tính đến năm 2006). Tỉnh Tuyên Quang tiếp nhận số lượng lớn nhất với 4.980 nhân khẩu tái định cư. Các điểm khảo sát của đề tài tiếp nhận cư dân di dời từ xã Xuân Tiến và Xuân Tân (huyện Na Hang):
- Xã Phúc Sơn (huyện Lâm Bình, trước thuộc Chiêm Hóa): diện tích tự nhiên 9.090,85 ha, dân số 8.541 người; người Dao Đỏ tái định cư tập trung ở ba thôn Phiêng Tạ, Noong Cuồng, Bó Cạu (cách quê cũ khoảng 40 km).
- Xã Trung Hà (huyện Chiêm Hóa): diện tích 10.317 ha, dân số 7.377 người; người Dao Đỏ tập trung tại Bản Ba 1, Bản Ba 2, Khuon Pồng 1, Khuổi Hỏi; là xã thuần nông với 98,5% lao động nông nghiệp.
- Xã Tân Mỹ (huyện Chiêm Hóa): diện tích 7.189,59 ha, dân số 8.541 người; người Dao Đỏ cư trú tại Nà Giàng, Bản Tụm, Sơn Thủy, Trung Sơn, Lăng Lé (cách quê cũ 60 km).
Người Dao ở Việt Nam có dân số 891.151 người (Tổng điều tra 2019), tại Tuyên Quang có 105.359 người. Nhóm Dao Đỏ tại Na Hang di cư vào Việt Nam khoảng từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, tự xưng là "Kiềm miền" (người ở rừng) hoặc "Dìu miền". Về văn hóa vật chất và tinh thần tại nơi ở mới: 98% số nhà ở đã thay đổi hoàn toàn cách bố trí mặt bằng sinh hoạt, chỉ còn 2% giữ cấu trúc truyền thống; diện tích nhà thu hẹp về 3 gian hoặc chuyển sang nhà xây cấp bốn; trang phục nữ cổ truyền vẫn được duy trì trong đám cưới, lễ tết nhưng số lượng giảm sút, trong khi trang phục nam gần như mất hẳn; chế độ ăn chuyển từ ngô, sắn sang gạo tẻ mua tại chợ; nghi lễ cấp sắc suy giảm mạnh, trong gần 20 năm không có trường hợp nào làm lễ cấp sắc mới tại các điểm tái định cư khảo sát; chữ Nôm Dao và dân ca Pá dung rơi vào tình trạng mai một do thế hệ trẻ không theo học.
Chương 2: Tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng thủy điện Tuyên Quang trước di dân
Chương 2 phục dựng bức tranh thực hành tri thức dân gian tại không gian sinh tồn cũ ở vùng lòng hồ Na Hang trước năm 2002. Địa bàn cũ có độ che phủ rừng lớn, địa hình chia cắt mạnh, khí hậu phân hóa hai mùa rõ rệt (mùa hè nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch; mùa đông khô lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch).
Trong sản xuất nông nghiệp, sinh kế chính của người Dao Đỏ là canh tác ruộng nước một vụ (làm đất từ tháng Giêng đến tháng 5, cấy lúa vào tháng 6, gặt vào tháng 10 âm lịch), thời gian còn lại trồng ngô, đậu, rau vụ đông và làm nương rẫy. Tri thức thời tiết, đất đai và nguồn nước được tích lũy phục vụ việc dẫn thủy nhập điền qua các máng mó nước bằng tre nứa.
Trong khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên, người Dao Đỏ phụ thuộc vào rừng nguyên sinh để hái lượm lâm sản, săn bắt và đánh bắt cá lòng hồ. Tri thức khai thác cây đao và cây báng mọc tự nhiên là nét đặc trưng: ruột cây đao, báng được khai thác quanh năm để làm lương thực chống đói và chưng cất thành loại rượu đao, rượu báng nổi tiếng. Rừng và nguồn nước được quản lý bằng luật tục nghiêm ngặt; cộng đồng duy trì các nghi lễ tín ngưỡng cúng thần rừng (Khoi kềm), cúng nguồn nước, cúng ma ruộng, lễ tống trùng (đuổi sâu bọ) và kiêng kỵ chặt phá rừng đầu nguồn.
Trong chăm sóc sức khỏe, người Dao Đỏ sở hữu kho tàng tri thức phong phú về thảo dược tự nhiên. Phụ nữ nắm giữ kinh nghiệm nhận biết, thu hái các loại lá thuốc tắm cho phụ nữ sau sinh, thuốc bồi bổ và trị đau nhức xương khớp. Bên cạnh thảo dược, các phương pháp chữa bệnh dân gian như đốt bấc (sử dụng ngọn bấc đèn tẩm dầu thảo mộc để hơ, điểm huyệt trị cảm, đau bụng) được sử dụng phổ biến, kết hợp cùng các nghi lễ cúng gọi hồn, trừ tà khi có người ốm đau.
Chương 3: Tri thức dân gian của người Dao Đỏ trong bối cảnh tái định cư
Chương 3 phân tích sự biến đổi của tri thức dân gian trong môi trường sinh thái và kinh tế mới. Tại các điểm tái định cư ở Phúc Sơn, Trung Hà và Tân Mỹ, diện tích đất canh tác bình quân đầu người giảm, không còn không gian rừng tự nhiên rộng lớn như ở quê cũ.
Trong sản xuất nông nghiệp, người Dao Đỏ phải chuyển đổi lịch mùa vụ từ một vụ lúa sang hai vụ lúa nước kết hợp trồng màu (lạc, ngô hàng hóa), học tập kỹ thuật thâm canh từ người Tày và người Kinh sở tại. Các công cụ cơ giới hóa như máy cày mini, máy tuốt lúa, máy tách hạt ngô xuất hiện và thay thế dần công cụ truyền thống. Tri thức canh tác nương rẫy vùng dốc cao gần như tiêu biến do không còn đất nương.
Trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguồn cây đao và báng tự nhiên không còn ở nơi ở mới, buộc người Dao Đỏ phải từ bỏ nghề nấu rượu đao, báng truyền thống. Thay vào đó, họ chuyển sang nấu rượu gạo, rượu ngô men lá. Tri thức làm men lá cổ truyền được điều chỉnh để tìm kiếm các loại thảo mộc thay thế tại chỗ hoặc mua nguyên liệu từ chợ. Do rừng tự nhiên bị thu hẹp và thuộc diện quản lý bảo vệ nghiêm ngặt của Nhà nước, việc thu hái lâm sản tự nhiên giảm mạnh. Để duy trì nguồn dược liệu, một số người làm thuốc chuyển hướng sang di thực cây thuốc từ rừng về trồng quanh vườn nhà. Kết quả khảo sát thực địa đã ghi nhận vườn thuốc quanh nhà bà PTP (Bảng 3.10) và bà CTM (Bảng 3.11) với hàng chục loài thảo dược được khoanh vùng bảo tồn. Các nghi lễ nông nghiệp gắn với rừng và nguồn nước như cúng thần rừng, cúng mở máng nước tự nhiên biến mất do hệ thống nước sinh hoạt đã được chuyển sang đường ống dẫn nước và giếng khoan bê tông.
Trong chăm sóc sức khỏe, tri thức chữa bệnh bằng thuốc Nam phân hóa rõ rệt: các tri thức phổ thông (thuốc tắm phụ nữ sau sinh, lá xông giải cảm) vẫn được duy trì trong các hộ gia đình; phương pháp đốt bấc còn được áp dụng cho trẻ nhỏ và người già; tuy nhiên, các bài thuốc trị bệnh nan y gia truyền chỉ còn lưu giữ ở một số rất ít thầy lang chuyên nghiệp (như bà CTM). Khi mắc bệnh nặng, người dân có xu hướng tìm đến trạm y tế xã và bệnh viện thay vì chỉ dựa vào thầy cúng và thảo dược như trước.
Chương 4: Vai trò, tác động và những vấn đề đặt ra với tri thức dân gian của người Dao Đỏ trong bối cảnh tái định cư
Chương 4 đúc kết vai trò, phân tích căn nguyên biến đổi và định hướng bảo tồn hệ thống tri thức.
Về vai trò: Tri thức dân gian tiếp tục giữ vị trí cốt lõi hỗ trợ cộng đồng thích ứng với điều kiện tự nhiên mới, bảo đảm sinh kế tự cung tự cấp và phát triển kinh tế hàng hóa (thông qua sản phẩm rượu men lá, cây thuốc); hỗ trợ người dân tự chăm sóc sức khỏe bước đầu với chi phí thấp; đồng thời là chất keo duy trì gắn kết xã hội thông qua các hình thức trao truyền, sinh hoạt họ hàng và nghi lễ chu kỳ đời người.
Về các yếu tố tác động đến sự biến đổi tri thức:
- Tác động của chính sách, pháp luật: Quy hoạch tái định cư, chính sách giao đất giao rừng và quy chế quản lý bảo vệ rừng đặc dụng làm thay đổi căn bản quyền tiếp cận tài nguyên thiên nhiên của người dân.
- Tác động của điều kiện tự nhiên: Sự khác biệt về địa hình, khí hậu, tính chất thổ nhưỡng và sự biến mất của hệ sinh thái rừng nhiệt đới vùng cao lòng hồ làm triệt tiêu môi trường thực hành của nhiều tri thức cũ.
- Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Cơ giới hóa nông nghiệp, mạng lưới điện lưới quốc gia, phương tiện nghe nhìn, giao thông thuận tiện và mạng internet thúc đẩy sự thay đổi nhanh chóng trong lối sống và công cụ sinh hoạt.
- Tác động của giao lưu văn hóa: Sự cộng cư chặt chẽ với người Tày, người Kinh dẫn đến tiếp biến văn hóa trong ẩm thực (cỗ cưới xuất hiện các món ăn người Kinh, người Tày), kiến trúc nhà ở và nghi thức tang ma, cưới hỏi.
- Tác động từ nhận thức của chủ thể văn hóa: Tâm lý muốn hòa nhập cuộc sống hiện đại, xu hướng tìm kiếm sinh kế phi nông nghiệp của giới trẻ khiến thế hệ kế cận không còn mặn mà với việc học chữ Nôm Dao, bài cúng và tri thức thảo dược.
Những vấn đề đặt ra gồm có: nguy cơ mai một nhanh chóng các tri thức bản địa quý giá; sự đứt gãy trong cơ chế tự bảo tồn truyền thống của cộng đồng; và nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa tộc người khi tri thức dân gian bị giản lược. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn và phát huy: nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua việc ghi chép, số hóa sách cúng chữ Nôm Dao; phục hồi các hội thi tay nghề dệt thêu trang phục; phát triển kinh tế dược liệu gắn vườn thuốc Nam gia đình với thị trường; xây dựng chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, thầy cúng, bà lang thuốc trong việc truyền dạy tri thức cho thế hệ kế tiếp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa tộc người thiểu số trong bối cảnh di dân tái định cư phục vụ công trình thủy điện. Bằng việc kết hợp hai khung lý thuyết Sinh thái học văn hóa và Thuyết Chức năng, luận án đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi môi trường sinh thái nhân văn với sự vận động, chuyển dịch công năng của hệ thống tri thức dân gian. Nghiên cứu khẳng định văn hóa dân gian không bất biến mà luôn biến chuyển linh hoạt: những tri thức không còn phù hợp sinh thái sẽ tiêu biến hoặc biến đổi, trong khi những tri thức đáp ứng nhu cầu sinh tồn và hội nhập mới sẽ được cộng đồng sáng tạo hoặc dung hợp từ các tộc người láng giềng.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp một hệ thống tư liệu điền dã chuyên sâu, chân thực và có độ tin cậy cao về toàn bộ các thực hành tri thức dân gian của nhóm Dao Đỏ di dời từ vùng hồ Na Hang về ba xã Phúc Sơn, Trung Hà, Tân Mỹ sau hơn 20 năm tái định cư. Công trình đã lượng hóa được mức độ biến đổi trong bố trí nhà ở (98% thay đổi), sự thay đổi phương thức làm men lá, nghề nấu rượu, hiện trạng suy giảm của lễ cấp sắc và chữ Nôm Dao. Các kết quả này đóng vai trò là căn cứ khoa học trực tiếp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền tỉnh Tuyên Quang và các địa phương vùng miền núi trong việc điều chỉnh chính sách tái định cư, hoạch định chính sách dân tộc, quy hoạch phát triển dược liệu và xây dựng chương trình bảo tồn văn hóa phi vật thể gắn với phát triển kinh tế bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về thời gian điền dã và phạm vi đề tài, luận án mới chỉ khảo sát tập trung tại ba xã thuộc huyện Chiêm Hóa và huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, đại diện cho nhóm người Dao Đỏ di dời từ hai xã Xuân Tiến và Xuân Tân (huyện Na Hang). Nghiên cứu chưa thể mở rộng khảo sát so sánh với các điểm tái định cư của dự án Thủy điện Tuyên Quang nằm trên địa bàn tỉnh Hà Giang (huyện Bắc Mê) và tỉnh Bắc Kạn (huyện Ba Bể).
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng:
- Tiến hành điều tra, so sánh diện rộng giữa tri thức dân gian của người Dao Đỏ với các nhóm Dao khác (như Dao Tiền, Dao Quần chẹt) cùng chịu tác động bởi chương trình di dân thủy điện tại khu vực miền núi phía Bắc.
- Đi sâu nghiên cứu dược tính và chuỗi giá trị kinh tế của các loài cây thuốc Nam trong vườn của người Dao Đỏ tái định cư, hướng tới việc thương mại hóa an toàn sản phẩm tri thức bản địa gắn với du lịch sinh thái cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Văn hóa dân gian, Dân tộc học và Nhân học văn hóa khi nghiên cứu về văn hóa tộc người Dao, sự thích ứng sinh thái và lý thuyết biến đổi văn hóa.
Bên cạnh đó, công trình có giá trị ứng dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước như Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh miền núi phía Bắc, các ban quản lý dự án thủy điện trong công tác đánh giá tác động văn hóa - xã hội sau di dân, xây dựng đề án bảo tồn các tri thức dân gian đứng trước nguy cơ mai một và triển khai mô hình sinh kế gắn với tri thức bản địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Người Dao Đỏ tại các điểm nghiên cứu của luận án có nguồn gốc di dời từ đâu và hiện cư trú tại các địa bàn cụ thể nào?
Cộng đồng người Dao Đỏ trong luận án nguyên sinh sống tại xã Xuân Tiến và xã Xuân Tân thuộc huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi công trình Thủy điện Tuyên Quang được xây dựng theo Quyết định số 288/QĐ-TTg, họ được di dời đến tái định cư tại các thôn Phiêng Tạ, Noong Cuồng, Bó Cạu thuộc xã Phúc Sơn (huyện Lâm Bình), các thôn Bản Ba 1, Bản Ba 2, Khuon Pồng 1, Khuổi Hỏi thuộc xã Trung Hà, và các thôn Nà Giàng, Bản Tụm, Sơn Thủy, Trung Sơn, Lăng Lé thuộc xã Tân Mỹ (huyện Chiêm Hóa), tỉnh Tuyên Quang.
2. Tỷ lệ biến đổi cách bố trí mặt bằng không gian nhà ở truyền thống của người Dao Đỏ tại vùng tái định cư là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát điền dã kế thừa và xác minh trong luận án, có đến 98% ngôi nhà của người Dao Đỏ tái định cư đã thay đổi hoàn toàn cách bố trí mặt bằng sinh hoạt bên trong so với truyền thống. Chỉ còn khoảng 2% số hộ dân giữ được cách bố trí cấu trúc không gian nhà ở cổ truyền. Hầu hết các ngôi nhà gỗ bị thu hẹp diện tích từ 5 gian xuống 3 gian hoặc thay thế bằng nhà xây gạch cấp bốn theo phong cách của người Kinh.
3. Vì sao tập quán nấu rượu truyền thống của người Dao Đỏ bị thay đổi nguyên liệu sau khi chuyển đến nơi ở mới?
Tại quê cũ ở Na Hang, người Dao Đỏ có truyền thống khai thác ruột cây đao và cây báng mọc tự nhiên trong rừng nguyên sinh để làm lương thực và chưng cất thành loại rượu đao, rượu báng. Khi chuyển về nơi tái định cư, do điều kiện tự nhiên thay đổi, không còn nguồn nguyên liệu cây đao và báng tự nhiên, đồng bào buộc phải chuyển sang sử dụng gạo tẻ và ngô kết hợp với men lá tự ủ để nấu rượu phục vụ tiêu dùng gia đình và bán ra thị trường.
4. Hai lý thuyết khoa học nền tảng được tác giả sử dụng để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu của luận án là gì?
Tác giả đã ứng dụng Thuyết Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology) của Julian Steward và Leslie White nhằm phân tích mối quan hệ giữa sự thay đổi môi trường tự nhiên với sự biến đổi các mô hình thực hành văn hóa; kết hợp với Thuyết Chức năng (Functionalism), trọng tâm là quan điểm chức năng tâm lý học của Bronislaw Malinowski, để lý giải cách thức các tri thức dân gian đáp ứng 7 nhu cầu cơ bản về sinh học, tâm lý và xã hội của cộng đồng trong hoàn cảnh sống mới.
5. Thực trạng thực hành nghi lễ cấp sắc và chữ viết Nôm Dao tại các điểm tái định cư hiện nay diễn ra như thế nào?
Tại các điểm tái định cư được khảo sát, nghi lễ cấp sắc chỉ còn áp dụng bắt buộc đối với những người làm thầy cúng lớn (chuyên làm lễ đưa ma, giải hạn cộng đồng) chứ không phổ cập cho mọi nam giới trưởng thành như trước kia. Trong suốt gần 20 năm kể từ khi di dân, không ghi nhận thêm trường hợp nào tiến hành làm lễ cấp sắc mới. Chữ viết Nôm Dao hiện nay hầu như chỉ có các thầy cúng cao tuổi biết đọc, biết viết để phục vụ việc ghi chép văn tự, sớ sách cúng tế; giới trẻ trong cộng đồng không còn theo học, khiến chữ viết truyền thống đứng trước nguy cơ mai một hoàn toàn.
Kết luận
Luận án "Tri thức dân gian của người Dao Đỏ vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang" của tác giả Đỗ Thị Kiều Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu về diện mạo, vai trò và sự biến đổi của tri thức dân gian tộc người dưới tác động của sự thay đổi không gian cư trú. Thông qua việc vận dụng tiếp cận hệ thống, thuyết Sinh thái học văn hóa và thuyết Chức năng cùng các phương pháp điền dã nhân học, luận án đã làm rõ tiến trình thích ứng sinh thái, sinh kế và các nguy cơ đứt gãy văn hóa truyền thống của cộng đồng Dao Đỏ sau hơn hai thập kỷ tái định cư. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp hệ thống tư liệu khoa học có giá trị cho chuyên ngành Văn hóa dân gian mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa gắn với sự phát triển bền vững của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.