Tổng quan nghiên cứu

Miền Đông tỉnh Lạng Sơn bao gồm ba huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Văn Lãng, trải dài dọc theo 253 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Địa bàn sở hữu vị trí chiến lược xung yếu và là nơi quần cư lâu đời của hơn 214.309 cư dân thuộc 26 thành phần tộc người khác nhau, trong đó người Nùng chiếm khoảng 43,9% và người Tày chiếm khoảng 35,3% dân số toàn tỉnh. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện diện mạo văn hóa truyền thống và quá trình giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng bản địa trong bối cảnh công cuộc Đổi mới diễn ra toàn diện từ năm 1986 đến năm 2020.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ các thành tố văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và đời sống tinh thần của các tộc người bản địa; từ đó phân tích các tầng mức giao thoa nội bộ tộc người, giao thoa liên tộc người giữa người Tày, Nùng với người Kinh, người Dao, người Hoa và sự giao lưu văn hóa qua biên giới. Phạm vi không gian được xác lập trên tổng diện tích tự nhiên hơn 2.172 km² của ba huyện miền Đông, với mốc thời gian khảo sát 34 năm nhằm nắm bắt những chuyển động xã hội từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế thị trường mở cửa. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về sự thích ứng văn hóa, giải quyết bài toán phát triển kinh tế cửa khẩu song hành với việc bảo vệ chủ quyền biên cương và giữ gìn bản sắc tộc người trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory) và lý thuyết sinh thái nhân văn nhằm phân tích sự vận động của văn hóa bản địa dưới tác động của môi trường tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử - xã hội. Luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu đa diện, khảo sát văn hóa tộc người qua ba chiều kích tương tác mật thiết: văn hóa vật chất (sinh kế nông lâm nghiệp, kiến trúc nhà ở, trang phục), văn hóa xã hội (tổ chức dòng họ, quan hệ làng bản) và văn hóa tinh thần (nghi lễ then, then giải hạn hắt khoăn, dân ca sli, lượn và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên).

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ luận văn bao gồm: "văn hóa tộc người" - hệ thống giá trị biểu trưng phân định ranh giới tự nhận thức của cộng đồng; "giao thoa văn hóa" - quá trình tiếp xúc, dung hợp và làm giàu lẫn nhau giữa các hệ thống văn hóa độc lập; "tiếp biến văn hóa" - sự biến đổi về chất của các yếu tố nội sinh khi tiếp nhận yếu tố ngoại sinh; và "vùng văn hóa biên giới" - không gian địa bàn mang tính mở, tích hợp nhiều luồng giao lưu xuyên quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn tư liệu thành văn (văn kiện Đảng, chính sách dân tộc, Địa chí Lạng Sơn, niên giám thống kê giai đoạn 1986 - 2020) và nguồn tư liệu thực địa điền dã được thu thập trực tiếp tại ba huyện nghiên cứu. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 18 điểm thôn bản tiêu biểu đại diện cho vùng cao, vùng thung lũng và khu vực cửa khẩu; thực hiện phỏng vấn sâu 45 đối tượng là các nghệ nhân ưu tú, thầy tào, già làng, trưởng bản và cán bộ văn hóa cơ sở (trong đó gồm 20 đại diện người Tày, 18 đại diện người Nùng, 4 đại diện người Dao và 3 đại diện người Hoa).

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) kết hợp phương pháp quả cầu tuyết (snowball sampling) được áp dụng để tiếp cận đúng những chủ thể nắm giữ tri thức dân gian truyền thống và thực hành nghi lễ. Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình biến đổi văn hóa theo trình tự thời gian 34 năm một cách khách quan. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh định tính và thống kê xã hội học cho phép bóc tách chính xác tỷ lệ các yếu tố truyền thống được bảo lưu so với các yếu tố mới du nhập, đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học của từng luận điểm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu dân cư tạo nên thế cân bằng văn hóa đặc thù khi người Tày chiếm 57,46% dân số huyện Lộc Bình, trong khi người Nùng chiếm thế áp đảo tại huyện Cao Lộc với 46.281 người (khoảng 57,94%) và huyện Văn Lãng với 31.106 người (khoảng 62,59%). Sự phân bố đan xen này định hình mô hình giao thoa đồng tộc sâu sắc giữa hai nhánh Tày - Nùng.

Thứ hai, phương thức sinh kế truyền thống chuyển đổi mạnh mẽ từ tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa chuyên canh. Hiện tượng du canh du cư được xóa bỏ hoàn toàn: đến năm 2018 toàn bộ ba huyện chỉ còn 2 hộ dân tại Lộc Bình thuộc diện này, và đến năm 2019 con số ghi nhận tại Cao Lộc và Văn Lãng đều đạt mức tuyệt đối là 0 hộ. Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Văn Lãng giảm ngoạn mục bình quân 4,1%/năm, từ mức 29,67% năm 2015 xuống còn 8,85% năm 2020 nhờ kinh tế cửa khẩu và cây đặc sản như hoa hồi, hồng vành khuyên.

Thứ ba, sự dung hợp kiến trúc và trang phục diễn ra với tốc độ nhanh. Nhà trình tường đất nện dày từ 10 cm đến 30 cm (nhà pháo đài phòng thủ) của người Nùng và nhà sàn 4 mái 7 hàng cột của người Tày dần được thay thế bằng nhà xây gạch kiên cố lợp ngói âm dương nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong trang phục, vải chàm thủ công nhường chỗ cho vải công nghiệp tiện dụng, song các dấu hiệu nhận diện tộc người vẫn được giữ gìn nguyên vẹn: áo nữ người Tày giữ nguyên 5 hàng cúc cài bên phải, trong khi áo nam người Nùng kiên định cấu trúc 7 hàng cúc ngực (chất kháu).

Thứ tư, giao thoa liên tộc người và giao lưu xuyên biên giới bùng nổ mạnh mẽ dọc theo tuyến hành lang kinh tế và mạng lưới 2 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu quốc gia và 9 cửa khẩu phụ, tạo ra năng lực song ngữ, đa ngữ Tày - Nùng - Kinh - Hoa trong đại bộ phận cư dân vùng biên mậu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các biến đổi trên bắt nguồn từ tác động cộng hưởng của chính sách Đổi mới 1986, chương trình xây dựng nông thôn mới và sự hoàn thiện của hạ tầng giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, 1B, 4A và 4B. Dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng ma trận cơ cấu dân số 26 tộc người và biểu đồ đường thể hiện đà suy giảm của tình trạng du canh du cư giai đoạn 2015 - 2020.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại khu vực Tây Bắc hay vùng miền Tây Cao Bằng, giao thoa văn hóa ở miền Đông Lạng Sơn mang tính chủ động, cởi mở hơn nhờ xung lực mạnh mẽ từ hoạt động thương mại cửa khẩu. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của kinh tế thị trường cũng đặt ra nguy cơ mai một nghề dệt vải thủ công, suy giảm người biết hát sli, lượn cổ và làm mờ nhạt không gian văn hóa nhà sàn truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh số hóa di sản văn hóa phi vật thể: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn chủ trì triển khai dự án lập hồ sơ dữ liệu số cho 100% các làn điệu Then, Sli, Lượn và kho tàng truyện kể dân gian tại 61 xã, thị trấn thuộc ba huyện miền Đông, hoàn thành trước quý IV năm 2027.

Thứ hai, phục dựng không gian kiến trúc truyền thống gắn với du lịch cộng đồng: Ủy ban nhân dân các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Văn Lãng tiến hành quy hoạch, hỗ trợ kinh phí bảo tồn ít nhất 15 cụm bản nhà sàn và nhà trình tường tiêu biểu; phát triển mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao trở lên trong giai đoạn 2025 - 2030.

Thứ ba, đưa tri thức bản địa vào chương trình giáo dục phổ thông: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn biên soạn và tích hợp tài liệu giảng dạy tiếng Tày - Nùng và thực hành văn hóa trang phục truyền thống vào hoạt động ngoại khóa cho 100% trường học vùng biên giới, duy trì tần suất tối thiểu 2 tiết/tháng từ năm học 2025 - 2026.

Thứ tư, thương hiệu hóa các sản phẩm sinh kế mang chỉ dẫn địa lý: Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn kết hợp cùng Sở Công Thương hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất, đóng gói nhãn mác cho ít nhất 20 sản phẩm bản địa chủ lực như hồng không hạt Bảo Lâm, tinh dầu hồi Văn Lãng nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường Quảng Tây trước năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu dân tộc học và nhân học văn hóa: Tìm thấy nguồn dữ liệu điền dã phong phú, chân xác về phương thức biến đổi sinh kế và sự chuyển dịch ranh giới tộc người vùng Đông Bắc Việt Nam trong suốt 34 năm chuyển đổi kinh tế.

Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách địa phương: Sử dụng công trình như một luận cứ khoa học tin cậy để xây dựng các đề án an sinh xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa an ninh biên giới và chính sách bảo tồn bản sắc văn hóa tại 3 huyện biên cương.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học: Khai thác khung phương pháp luận điền dã kết hợp đối chiếu lịch sử - logic cùng hệ thống số liệu dân tộc học được kiểm chứng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Doanh nghiệp du lịch và các nhà phát triển dự án di sản: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về kiến trúc nhà ở, lễ hội và phong tục ẩm thực để định hình các sản phẩm tour du lịch trải nghiệm di sản văn hóa cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu dân cư miền Đông Lạng Sơn có đặc điểm nổi bật nào chi phối sự giao thoa văn hóa? Địa bàn là nơi sinh sống của 26 tộc người, trong đó hai tộc người Tày và Nùng chiếm trên 80% tổng dân số của ba huyện, tạo nên trục giao thoa song hành bền chặt về ngôn ngữ, phong tục và nghi lễ tín ngưỡng xuyên suốt lịch sử định cư.

Nhà pháo đài của người Nùng tại miền Đông Lạng Sơn có đặc trưng gì về kỹ thuật? Nhà pháo đài là dạng nhà đất trình tường độc đáo với lớp tường đất nện dày từ 20 cm đến 30 cm, xung quanh có lũy đá hoặc hàng rào tre dày đặc. Kiến trúc này vừa giúp chống chịu mùa đông giá rét vừa đảm bảo an ninh phòng thủ bản làng trước nạn giặc cướp vùng biên trước đây.

Giao thoa văn hóa giữa người Tày, Nùng và người Kinh thể hiện rõ nét nhất ở khía cạnh nào? Hiện tượng giao thoa thể hiện sâu sắc qua việc tiếp nhận ngôn ngữ phổ thông, cải tiến kỹ thuật canh tác lúa nước hai vụ, sử dụng trang phục vải âu hiện đại và sự hòa trộn trong phong tục cưới xin, lễ tết tại các trung tâm thị trấn như Đồng Đăng, Na Sầm và Lộc Bình.

Hoạt động kinh tế cửa khẩu tác động ra sao đến sinh kế truyền thống của cư dân? Hệ thống cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, Ga Đồng Đăng cùng 9 cửa khẩu phụ đã chuyển đổi mạnh mẽ sinh kế từ tự cung tự cấp sang dịch vụ vận tải, logistics, thương mại biên mậu và xuất khẩu nông đặc sản, giúp giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo tại Văn Lãng xuống 8,85% năm 2020.

Căn cứ vào chi tiết nào trên y phục cổ truyền để phân biệt nam giới Tày và Nùng? Điểm phân biệt trực quan nằm ở kết cấu khuy áo ngực: áo ngắn truyền thống của nam giới người Tày có xẻ tà đính 5 hàng cúc vải đơn, trong khi áo ngắn của nam giới người Nùng luôn có hàng xẻ chít eo trang bị 7 hàng cúc khuy bấm gọi là chất kháu.

Kết luận

  • Luận văn tái hiện toàn diện bức tranh văn hóa vật chất, xã hội và tinh thần của các tộc người tại 3 huyện miền Đông Lạng Sơn qua 34 năm công cuộc Đổi mới (1986 - 2020).
  • Hệ thống hóa các quy luật giao thoa văn hóa nội tộc, liên tộc người và giao lưu xuyên biên giới, chứng minh sự dung hợp tích cực giữa truyền thống và hiện đại.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa có độ tin cậy cao với 18 địa bàn khảo sát, phản ánh sự chấm dứt của tập quán du canh du cư và sự nâng cao mức sống cộng đồng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm gắn kết hài hòa công tác bảo tồn di sản với chiến lược phát triển kinh tế thương mại biên mậu đến năm 2030.
  • Xác định lộ trình nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phân tích tác động của chuyển đổi số và thương mại điện tử xuyên biên giới tới căn tính tộc người vùng biên.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác toàn bộ tư liệu khoa học của công trình này để triển khai hiệu quả các đề án bảo tồn văn hóa và phát triển bền vững vùng biên cương Đông Bắc.