Luận án tiến sĩ về tri thức bản địa của người Thái tại miền núi Thanh Hóa

Luận án tiến sĩ phân tích tri thức bản địa của người thái ở miền núi thanh hóa, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2009

319
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, TỘC NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa

1.2. Người Thái ở miền núi Thanh Hóa

1.3. Tri thức bản địa

2. CHƯƠNG 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

2.1. Tri thức trong phân loại và bảo vệ đất trồng trọt

2.2. Tri thức trong lựa chọn giống lúa

2.3. Tri thức trong kỹ thuật canh tác

2.4. Tri thức trong đoán định thời tiết

2.5. Tri thức về lịch và nông lịch

2.6. Tri thức trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước

2.7. Tri thức trong khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng

3. CHƯƠNG 3: TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ Y HỌC DÂN GIAN VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

3.1. Quan niệm về ốm đau, bệnh tật

3.2. Quan niệm về nghề thuốc và truyền nghề

3.3. Tri thức về thuốc nam chữa bệnh

3.4. Ăn uống dưới khía cạnh dinh dưỡng và chữa bệnh

4. CHƯƠNG 4: TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI

4.1. Chế độ sở hữu ruộng đất

4.2. Thiết chế bản - mường và bộ máy hành chính

4.3. Tri thức về luật tục

4.4. Tri thức trong thông tin cộng đồng

Khuyến nghị

Chú thích

Danh mục các công trình công bố của tác giả

Tài liệu tham khảo

Bản đồ địa bàn nghiên cứu

Một số hình ảnh về người Thái

Ảnh một số cây thuốc

Thống kê danh sách một số cây thuốc và bài thuốc

Những nghi lễ và kiêng kỵ trong phòng bệnh

Chữa bệnh bằng ma thuật

Nghi lễ cầu mưa

Truyền thuyết về ta leo

Bảng so sánh một số từ vựng của người Thái ở một vài địa phương

Danh sách những người cung cấp tư liệu

Tóm tắt

I. Tổng quan về tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa

Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa là một phần quan trọng trong văn hóa và bản sắc dân tộc. Nó không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên mà còn thể hiện những giá trị văn hóa độc đáo của tộc người này. Nghiên cứu tri thức bản địa giúp hiểu rõ hơn về cách mà người Thái đã phát triển và duy trì các phương thức sản xuất, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

1.1. Đặc điểm tri thức bản địa của người Thái

Tri thức bản địa của người Thái bao gồm nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, y học dân gian và phong tục tập quán. Những kiến thức này được hình thành qua nhiều thế hệ và được truyền lại từ cha ông. Chúng không chỉ là kinh nghiệm mà còn là sự kết hợp giữa tri thức truyền thống và thực tiễn sống hàng ngày.

1.2. Vai trò của tri thức bản địa trong đời sống người Thái

Tri thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế của người Thái. Nó giúp họ thích ứng với môi trường sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc bảo tồn tri thức này là cần thiết để phát triển bền vững trong bối cảnh hiện đại.

II. Những thách thức đối với tri thức bản địa của người Thái

Tri thức bản địa của người Thái đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại. Sự phát triển của công nghệ và đô thị hóa đã làm giảm giá trị của những kiến thức truyền thống. Nhiều người trẻ không còn quan tâm đến việc học hỏi và duy trì các phong tục tập quán của tổ tiên.

2.1. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến tri thức bản địa

Đô thị hóa đã dẫn đến sự thay đổi trong lối sống và sinh kế của người Thái. Nhiều người đã rời bỏ quê hương để tìm kiếm cơ hội việc làm tại các thành phố lớn, dẫn đến việc tri thức bản địa bị lãng quên.

2.2. Sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai

Văn hóa ngoại lai đang ngày càng xâm nhập vào đời sống của người Thái, làm cho các giá trị văn hóa truyền thống bị mai một. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tri thức bản địa mà còn đến bản sắc văn hóa của tộc người.

III. Phương pháp bảo tồn tri thức bản địa của người Thái

Để bảo tồn tri thức bản địa của người Thái, cần có những phương pháp hiệu quả nhằm khôi phục và phát huy giá trị của nó. Việc kết hợp giữa tri thức truyền thống và khoa học hiện đại là một trong những giải pháp quan trọng.

3.1. Giáo dục và truyền thông

Giáo dục là một trong những phương pháp quan trọng để truyền đạt tri thức bản địa cho thế hệ trẻ. Các chương trình giáo dục cần được thiết kế để bao gồm các nội dung về văn hóa và tri thức bản địa của người Thái.

3.2. Hợp tác với các tổ chức bảo tồn

Hợp tác với các tổ chức bảo tồn văn hóa và môi trường có thể giúp người Thái duy trì và phát huy tri thức bản địa. Các dự án bảo tồn cần được triển khai để hỗ trợ cộng đồng trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa.

IV. Ứng dụng tri thức bản địa trong phát triển kinh tế

Tri thức bản địa của người Thái có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong phát triển kinh tế bền vững. Việc áp dụng các phương pháp sản xuất truyền thống có thể giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

4.1. Nông nghiệp bền vững

Người Thái có nhiều kinh nghiệm trong việc canh tác nông nghiệp bền vững. Việc áp dụng các phương pháp canh tác truyền thống có thể giúp bảo vệ đất đai và tài nguyên nước, đồng thời nâng cao năng suất cây trồng.

4.2. Du lịch cộng đồng

Phát triển du lịch cộng đồng dựa trên tri thức bản địa có thể mang lại lợi ích kinh tế cho người Thái. Du khách có thể trải nghiệm văn hóa và phong tục tập quán của người Thái, từ đó tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng.

V. Kết luận về tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa

Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa là một tài sản văn hóa quý giá. Việc bảo tồn và phát huy tri thức này không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng. Cần có những chính sách và hành động cụ thể để bảo vệ và phát triển tri thức bản địa trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của tri thức bản địa

Tri thức bản địa không chỉ là tài sản văn hóa mà còn là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Việc bảo tồn tri thức này là cần thiết để duy trì bản sắc văn hóa của người Thái.

5.2. Hướng đi tương lai cho tri thức bản địa

Trong tương lai, cần có những nghiên cứu sâu hơn về tri thức bản địa của người Thái. Việc kết hợp giữa tri thức truyền thống và khoa học hiện đại sẽ là chìa khóa để phát triển bền vững và bảo tồn văn hóa.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu 1. Khái quát về địa bàn miền núi Thanh Hóa Miền núi Thanh Hóa là một khu vực rộng lớn với diện tích 7.893 km 2 (chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh), có địa thế núi non hiểm trở với hệ thống bắc sông Mã là núi đá vôi tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn và kết thúc bằng dãy Tam Điệp, có độ cao giảm dần từ 1.500 mét đến 100 mét, đỉnh cao nhất là Bù Luông (1.667 m) thuộc địa giới 2 xã Thanh Sơn (huyện Bá Thước) và Phú Xuân (huyện Quan Hóa); hệ thống nam sông Mã gồm các dãy phiến thạch, grannít chạy từ Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Thường Xuân sang Như Xuân… có độ cao trên dưới 1000 mét, đỉnh cao nhất là Bù Chó (1.122 m) thuộc xã Xuân Mỹ (huyện Thường Xuân). Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì đây cũng là khu vực của vùng rừng mưa nhiệt đới với hệ sinh thái phổ tạp. Vì vậy, thảm thực vật và quần động vật ở đây rất phong phú, tạo điều kiện cho cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông, đặc biệt là ở các thung lũng đầu nguồn hoặc phụ lưu các sông lớn như mường Ca Da (huyện Quan Hóa), mường Khoòng, mường ống (huyện Bá Thước), mường Đèng (huyện Lang Chánh), mường Chiếng Ván (huyện Thường Xuân).

Miền núi Thanh Hóa có hai hệ thống sông chính là sông Mã và sông Chu. Sông Mã bắt nguồn từ huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên), qua huyện Sông Mã (tỉnh Sơn La), huyện Xiềng Khọ (tỉnh Hủa Phăn, Lào) và chảy vào huyện Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thuỷ… (tỉnh Thanh Hóa). Sông Mã có chiều dài 512 km (phần chảy trên đất Thanh Hóa dài 242 km), lưu vực rộng 28.400 km2 (thuộc Thanh Hóa là 9.000 km2), có các nhánh chính tại miền núi là sông Luồng, Sông Lò, Suối Sim, Suối Quanh và Sông Chu. Sông Chu bắt nguồn từ Lào, qua huyện Quế Phong (tỉnh Nghệ An) và chảy vào huyện Thường Xuân… (tỉnh Thanh Hóa).

Sông Chu dài 300 km và có các nhánh chính là sông Khao, sông Đặt, sông Đằn và sông Âm. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai hệ thống sông Mã và sông Chu qua đất Lào và Việt Nam đã tạo ra những thung lũng với những cánh đồng màu mỡ thuận lợi cho việc trồng lúa nước, là con đường chuyển cư chính của người Thái từ Việt Nam sang Lào và ngược lại, đồng thời là cầu nối cho qúa trình giao lưu văn hóa, trao đổi kinh tế của các tộc người cư trú ở vùng lưu vực trong lịch sử cũng như hiện tại. Rừng vốn là thế mạnh của miền núi, nhờ có điều kiện nhiệt đới ẩm thuận lợi, rừng cây xanh tốt quanh năm với hệ sinh thái phổ tạp. Trong rừng chứa đựng một tiềm năng lớn về kinh tế với các loại gỗ quý như Đinh, Lim, Sến, Lát, Pơ mu… Một loại cây khác phổ biến và có giá trị kinh tế cao là cây luồng cùng bạt ngàn nứa, vầu, song, mấy.

Núi rừng ở đây còn hội tụ một quần thể động vật như voi, hổ, gấu… và một kho tài nguyên trong lòng đất như vàng, chì, thiếc… Miền núi Thanh Hóa có 11 huyện với 220 xã, trong đó có 102 xã đặc biệt khó khăn (diện chương trình 135), hai huyện vùng cao biên giới Mường Lát, Quan Sơn có 23 xã thì 100% số xã trong diện chương trình 135. Đây cũng là khu vực giữ vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm sự ổn định, phát triển không chỉ riêng cho vùng mà còn cho cả tỉnh; là vùng giàu tiềm năng, có nhiều thế mạnh: đất đai phát triển nông nghiệp, nghề rừng, khoáng sản, thuỷ điện, thương mại cửa khẩu, du lịch… 1. Người Thái ở miền núi Thanh Hoá Theo tổng điều tra dân số ngày 1 - 4 - 1999, miền núi Thanh Hoá có các tộc người thiểu số là Mường, Thái, Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú cư trú. Dân số của tộc Thái là 210.908 người, cư trú tập trung ở 8 huyện miền núi và một số xã miền núi, trung du của các huyện đồng bằng.1: Dân số các tộc người thiểu số ở miền núi Thanh Hóa TT Huyện Dân tộc Mường Thái Thổ Hmông Dao Khơ mú 1 Mường Lát 681 13.562 546 607 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.444 7 9 8 5 Lang Chánh 13.246 7 Thường Xuân 3.342 25 2 14 17 12 Tĩnh Gia 725 13 Triệu Sơn 4.077 642 Nguồn: Số liệu của Ban dân tộc Thanh Hóa (2002) 1.

Tộc danh và lịch sử cư trú Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các ngành Thái ở Tây Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung đều chung một gốc với các nhóm Thái ở Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Mianma. Tổ tiên người Tày - Thái xa xưa bắt nguồn từ các nhóm Bách Việt, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh sống ở vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Quý Châu và Đông Bắc Việt Nam. Đến thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, do bị sức ép của người Hán, một bộ phận người Thái thiên di nhiều đợt theo nhiều hướng dọc theo các con sông lớn xuống vùng Đông Nam á lục địa. Cùng lúc đó, họ gặp phải cuộc thiên di của những nhóm tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Tạng - Miến từ Tây Nam Trung Quốc tràn về.

Đến đây các nhóm Thái ngành phía Tây cộng cư với tổ tiên các tộc người ngôn ngữ Môn - Khơ me đã làm chủ miền này từ trước. Tuy ở một thế yếu kém hơn, đến những thế kỷ đầu sau Công nguyên, tổ tiên người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu quốc ở thượng lưu sông Mêkông, ở vùng thượng Đông Dương tới vùng giáp ranh tỉnh Vân Nam, vùng thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn này, Tây Bắc nói chung 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và Điện Biên Phủ nói riêng là đường chuyển tải văn hóa từ ấn Độ qua Việt Nam với những ảnh hưởng của đạo Bà La Môn và Phật giáo. Ngược lại, cũng qua đây các cư dân bản địa ở Đông Dương đã chuyển sang ấn Độ và Tây Nam Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình {241, tr 17}.

Cuộc thiên di lớn thứ hai của tổ tiên người Thái diễn ra bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên cùng sự lớn mạnh của nhà nước Nam Chiếu, Đại Lý và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XIII - XIV, kết thúc vào thế kỷ XV, nhờ sự suy yếu của những nhà nước Môn - Khơ me tại Đông Dương và sự suy yếu hay thất bại trước quân Mông - Nguyên của những nhà nước Tạng - Miến. Kết quả là một loạt quốc gia Thái được thiết lập ở Tây Đông Dương, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào, Thái Lan… Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái thần phục triều đình phong kiến Việt Nam (Lý, Trần, Lê sơ…) và được phép cai quản các lãnh địa cát cứ của mình. Mỗi vùng thường có một mường trung tâm và các mường phụ thuộc do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ương đứng đầu. Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này đã rất lớn: “năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống (có thể phiên âm từ Ngu Háu (Rắn Hổ mang - biểu tượng của người Thái đen) và Ai Lao đều vào triều cống.

Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi…” {46, tr 247}. Cộng đồng người Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành Thái trắng (Tay khao) và Thái đen (Tay đăm) rất độc đáo mà không thấy có ở các nhóm Tai khác của miền Nam Trung Quốc một số quốc gia ở khu vực Đông Nam á lục địa. ở miền núi Thanh Hóa, người Thái có hai nhóm tự gọi là Tày và Tày Dọ. Nhóm tự gọi là Tày phân bố chủ yếu ở các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh…; nhóm tự gọi là Tày Dọ tập trung chủ 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu ở các huyện Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh.

PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng “Danh xưng Tày Dọ có thể có mối liên hệ với các địa danh Mường Xo (Lai Châu), Mường Do (Vân Nam - Trung Quốc) xưa kia” {74, tr 41}. TS Vi Văn An cho rằng “Dọ” có nghĩa là tạm, chẳng hạn “dú dọ” (ở tạm). Rất có thể “Dọ” là để chỉ những bộ phận Thái mới chuyển cư đến, lúc đầu chỉ xin ở tạm, sau đó mới định cư lâu dài” {2, tr 53}. Sau này, TS Vi Văn An đính chính lại: "Dọ" là cố định, "Nhài" là di chuyển(1).

Lý giải về tên gọi của các nhóm Thái ở hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, nhà dân tộc học Mạc Đường cho rằng: Sau khi thiên di vào Việt Nam, nhiều nhánh người Thái đã phân chia cư trú ở các vùng rừng núi Bắc Trung bộ theo từng khu vực nhỏ ngăn cách khác nhau, họ đã dùng tên địa phương, tên sông núi nơi họ cư trú và những đặc điểm trang sức để gọi thành những tộc danh phức tạp khác nhau. Đó là nguyên nhân tồn tại nhiều tộc danh trong các chi tộc Thái ở miền núi Bắc Trung bộ…” {51, tr 24}. Cùng với tên gọi, nguồn gốc và lịch sử cư trú của người Thái ở miền núi Thanh Hóa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, PGS - TS Lê Sỹ Giáo cho rằng: Người Thái ở mường Ca Da đã từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào đi dọc sông Mã mà xuống vùng Quan Hóa. Khi đã định cư vững chắc, người Thái Ca Da lại tiếp nhận nhiều đợt di cư sau này của những người đồng tộc theo con đường truyền thống mà cha ông họ đã đi {79, tr 16}.

Theo nghiên cứu của TS Khăm Pheng Thíp muntaly: Người Phu Thay ở Hủa Phăn hiện nay có nguồn gốc chủ yếu và trực tiếp là từ Tây Bắc Việt Nam và miền Tây Thanh Hóa di cư đến và trải qua nhiều đợt, đông nhất là thời kỳ thế kỷ XVIII và XIX {111, tr 28 - 31}. Người Phu Thay dọc sông Nặm Má (sông Mã) xung quanh thị xã Xăm Nửa, huyện Hủa Mương, vùng Nặm Nơn cho biết cách đây 8 - 9 đời (khoảng 200 năm) những người Thái đen từ mường Muổi (Thuận Châu - Sơn La) đã 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến vùng mường ẹt, mường Xòn. Một bộ phận khác ở Mường Xăm, Mường Pua, Xiềng Khọ, Mường Xòn lại nói tổ tiên họ vốn từ mường Ca Da (Quan Hóa - Thanh Hóa) chạy giặc sang Lào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ