Khảo sát trầm cảm (PHQ-9) và thể chất YHCT ở sinh viên Y học cổ truyền

Nghiên cứu mối liên hệ giữa trầm cảm theo thang PHQ-9 và thể chất y học cổ truyền. Phân tích các yếu tố nguy cơ trầm cảm ở sinh viên ngành y.

Chuyên ngành

Y Học Cổ Truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Bác sĩ Nội trú

2023

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về trầm cảm và thể chất Y học cổ truyền

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến ảnh hưởng đến sinh học, tâm lý và xã hội của con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm chức năng toàn cầu. Trong Y học cổ truyền (YHCT), thể chất là khái niệm chỉ những đặc điểm về sinh lý, tâm lý và bệnh lý của cơ thể con người. Thể chất YHCT bao gồm 9 dạng chính: Cân bằng, Khí hư, Dương hư, Âm hư, Đàm thấp, Thấp nhiệt, Huyết ứ, Khí uất và Đặc biệt. Mối liên hệ giữa trầm cảmthể chất YHCT đặc biệt quan trọng ở sinh viên ngành Y, vì nhóm đối tượng này thường chịu áp lực học tập cao, rủi ro về sức khỏe tâm thần tăng. Nghiên cứu này sử dụng thang đo PHQ-9 để đánh giá mức độ trầm cảm và Bảng câu hỏi thể chất YHCT để xác định thể chất của sinh viên.

1.1. Định nghĩa trầm cảm theo thang PHQ 9

Thang đo PHQ-9 (Patient Health Questionnaire-9) là công cụ sàng lọc trầm cảm được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu lâm sàng. Nó đánh giá 9 tiêu chí chính của trầm cảm: mất hứng thú, cảm giác buồn bã, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, thay đổi cảm giác thèm ăn, cảm giác tự trách, khó tập trung, chậm chạp hoặc bồn chồn, và ý định tự làm hại bản thân. Điểm số từ 0-27 phân loại mức độ trầm cảm từ không có đến nặng.

1.2. Phân loại thể chất Y học cổ truyền

Thể chất YHCT được phân loại thành 9 dạng khác nhau dựa trên cân bằng Khí, Máu, Âm, Dương. Thể Cân bằng là trạng thái lý tưởng, trong khi các dạng thiên lệch như Khí hư, Dương hư, Âm hư cho thấy những bất cân bằng năng lượng khác nhau. Thể Khí uất liên quan đến chứng hư bất toại và ứ滞, thường gặp ở những người có trầm cảm, bứt rứt và cảm giác bí bách.

II. Mối liên hệ giữa trầm cảm và các dạng thể chất YHCT

Các nghiên cứu cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa trầm cảmthể chất YHCT, đặc biệt là ở sinh viên y học. Sinh viên với thể chất Khí uất có nguy cơ cao mắc trầm cảm do các đặc điểm tâm lý như: dễ cảm xúc, bí bách, căng thẳng và khó tập trung. Thể chất Âm hư cũng liên quan đến trầm cảm vì dẫn đến mất ngủ, mệt mỏi và chán nản. Ngược lại, thể chất Cân bằng có tỷ lệ trầm cảm thấp nhất. Trong sinh viên khoa Y học cổ truyền, những người có thể chất thiên lệch thường gặp phải áp lực học tập kết hợp với rối loạn cân bằng sinh lý, làm tăng nguy cơ trầm cảm. Hiểu rõ mối liên quan này giúp phát triển các biện pháp can thiệp phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Thể chất Khí uất và trầm cảm

Thể chất Khí uất được đặc trưng bởi tình trạng Khí ứ滞, dẫn đến cảm giác bí bách, chuốc dài, dễ tức giận và buồn bã. Sinh viên có thể chất Khí uất thường trải nghiệm trầm cảm do căng thẳng tích lũy. Các triệu chứng bao gồm: khó tập trung, mất ngon miệng, cơ thể nặng nề và tâm trạng chán chường.

2.2. Thể chất Âm hư và trầm cảm

Thể chất Âm hư liên quan đến tình trạng thiếu hụt Âm Dương và mất cân bằng Khí huyết. Đặc điểm này gây ra mất ngủ, chứng nóng ban đêm, mệt mỏi mãn tính và trầm cảm. Sinh viên với thể chất Âm hư dễ bị ảnh hưởng bởi stress học tập, làm nặng thêm các triệu chứng trầm cảm.

III. Các yếu tố nguy cơ trầm cảm ở sinh viên y học

Sinh viên ngành Y học cổ truyền đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ trầm cảm khác nhau. Áp lực học tập cao, khối lượng bài tập lớn, kỳ thi khó và sự cạnh tranh giữa các sinh viên là những stressor chính. Bên cạnh đó, thể chất thiên lệch như Khí uất, Âm hư, Dương hư làm tăng khả năng mắc trầm cảm. Tiền sử gia đình bị trầm cảm hoặc rối loạn tâm thần cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng. Ngoài ra, thói quen sinh hoạt không lành mạnh (mất ngủ, uống rượu, hút thuốc), thiếu hoạt động thể chất và sự cô lập xã hội cũng góp phần làm tăng nguy cơ. Từng nhóm năm học có mức nguy cơ khác nhau, với sinh viên năm cuối thường có áp lực cao hơn.

3.1. Áp lực học tập và sinh viên y học

Áp lực học tập là nguyên nhân chính gây trầm cảm ở sinh viên Y học cổ truyền. Khối lượng kiến thức lớn, tính thực hành cao và yêu cầu kỹ năng lâm sàng phức tạp tạo stress mãn tính. Kết hợp với thể chất thiên lệch, áp lực này làm tăng đáng kể nguy cơ trầm cảm.

3.2. Tiền sử sức khỏe tâm thần và di truyền

Tiền sử gia đình bị trầm cảm là yếu tố nguy cơ sinh học mạnh mẽ. Sinh viên có cha mẹ hoặc người thân mắc trầm cảm có khả năng cao hơn phát triển bệnh. Kết hợp với thể chất YHCT thiên lệch, nguy cơ trầm cảm tăng lên đáng kể.

IV. Ứng dụng lâm sàng và can thiệp phòng ngừa

Nhận thức về mối liên hệ giữa trầm cảmthể chất YHCT ở sinh viên y học có ý nghĩa lâm sàng quan trọng. Việc sàng lọc trầm cảm bằng thang PHQ-9 kết hợp với đánh giá thể chất YHCT giúp phát hiện sớm những sinh viên có nguy cơ cao. Từ đó, các biện pháp can thiệp được cá nhân hóa: điều chỉnh chế độ ăn uống, tăng hoạt động thể chất, hỗ trợ tâm lý, và nếu cần thiết, điều trị y học cổ truyền như châm cứu hoặc thảo dược để cân bằng thể chất. Các cơ sở giáo dục nên triển khai chương trình khám sức khỏe tâm thần định kỳ, tạo môi trường hỗ trợ và dạy kỹ năng quản lý stress cho sinh viên. Tuyên truyền về sức khỏe tâm thần và thể chất YHCT cũng rất cần thiết để nâng cao nhận thức sinh viên.

4.1. Sàng lọc và chẩn đoán sớm

Sử dụng thang PHQ-9 để sàng lọc trầm cảm và kết hợp với đánh giá thể chất YHCT giúp xác định nhóm sinh viên có nguy cơ cao. Chẩn đoán sớm cho phép can thiệp kịp thời, ngăn chặn trầm cảm phát triển nặng hơn. Các trường y nên thực hiện sàng lọc định kỳ cho toàn bộ sinh viên.

4.2. Can thiệp phòng ngừa dựa trên thể chất YHCT

Biện pháp can thiệp nên được cá nhân hóa dựa trên thể chất YHCT của sinh viên. Thể chất Khí uất cần hỗ trợ thêm điều chỉnh tâm lý và các liệu pháp thư giãn. Thể chất Âm hư cần cải thiện giấc ngủ và bổ dưỡng. Thể chất Cân bằng cần duy trì bằng lối sống lành mạnh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trầm cảm là rối loạn hay gặp trong thực hành tâm thần học cũng như trong thực hành đa khoa. Theo WHO và nhiều tác giả có từ 5-13% phụ nữ và 2-8% nam giới có triệu chứng trầm cảm tại bất kỳ thời điểm nào đó trong cuộc đời. Trầm cảm có tỷ lệ phổ biến suốt đời là 16,2% và tỷ lệ phổ biến trong mười hai tháng1,2 là 6,6%. Năm 2008, WHO xếp trầm cảm nguyên nhân thứ ba gây ra gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới và dự đoán căn bệnh này sẽ đứng đầu3 vào năm 2030.

Tỷ lệ hiện mắc có sự khác biệt rõ rệt theo nhóm tuổi, ở những người từ 18 đến 29 tuổi cao hơn gấp ba lần so với tỷ lệ hiện mắc ở những người từ 60 tuổi trở lên. Nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn từ 1,5 đến 3 lần so với nam giới bắt đầu từ giai đoạn đầu tuổi vị thành niên.4 Hơn nữa, người ta còn thấy tỷ lệ tái phát của trầm cảm là 50% đến 80%. Khoảng 45-70% những người tự sát có rối loạn trầm cảm và 15% số người bệnh trầm cảm chết do tự sát.5,6 Sức khỏe tâm thần kém ở sinh viên đại học là một nguyên nhân gây lo ngại trên toàn cầu. Một đánh giá có hệ thống trước đây chỉ ra rằng sinh viên đại học có tỷ lệ trầm cảm cao hơn so với dân số chung.7 Hầu hết các nghiên cứu này đã báo cáo tỷ lệ trầm cảm trên 35%.7-9 Tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên các ngành y tế cũng được báo cáo là cao hơn so với dân số chung.10,11 Các phân tích cho thấy tỷ lệ trầm cảm của sinh viên y khoa trên toàn cầu12 là 28,0%.

Tại Việt Nam nghiên cứu trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng tại đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh của Hồ Ngọc Quỳnh13 (2010) cho thấy tỉ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%; ở sinh viên điều dưỡng13 là 16,5%, tỷ lệ trầm cảm trên sinh viên đại học Y Dược Thái Nguyên theo nghiên cứu của Trần Thị Hiền14 (2021) là 42%, nghiên cứu của Phan Nguyệt Hà15 (2022) trên sinh viên đại học Y Hà Nội là 57,1%. Trầm cảm trên sinh viên liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, lòng tư trọng, tự nhận thức bản thân13,16,17, có thể ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập và chất lượng cuộc sống của. 2 họ18 và có thể góp phần vào việc lạm dụng rượu và chất kích thích, giảm sự đồng cảm và không trung thực trong học tập, có ý nghĩ tự sát.19 Thể chất y học cổ truyền (YHCT) bao gồm 1 thể cân bằng và 8 thể chất thiên lệch (TCTL). Nhiều nghiên cứu trên sinh viên cho thấy TCTL chiếm tỷ lệ rất cao: đại học Trung y Quảng Châu21 (74,38%), đại học Tây An20 (77%).

Mỗi TCTL có triệu chứng và xu hướng bệnh tật khác nhau, làm giảm chất lượng cuộc sống.20 Nghiên cứu của Liu Xuekai (2020) chỉ ra thể chất Cân bằng là yếu tố bảo vệ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho sinh viên, trong khi thể Khí hư, Dương hư, Huyết ứ là yếu tố nguy cơ giảm chất lượng cuộc sống đại học của sinh viên trên nhiều phương diện: thể chất, tâm lý, sức khỏe.20 Nghiên cứu của Sin Yee Yap (2021) đã cho thấy thể chất Khí uất là yếu tố thúc đẩy sự xuất hiện trầm cảm, thể chất Cân bằng là yếu tố kìm hãm sự phát triển của trầm cảm.21 Việc ứng dụng thể chất trong dự phòng bệnh tật là mô hình đang được thực hiện trên nhiều bệnh lý khác nhau.22-25 Tại Việt Nam hiện nay, chưa có nghiên cứu mối liên hệ giữa các dạng thể chất và đặc điểm trầm cảm trên sinh viên cũng như cộng đồng. Do đó, việc tìm ra mối liên hệ giữa dạng thể chất y học cổ truyền và đặc điểm trầm cảm nhằm cung cấp thông tin dịch tễ về thể chất YHCT và đặc điểm trầm cảm trên sinh viên. Từ đó có thể ứng dụng thể chất trong dự phòng trầm cảm trên sinh viên. Do đó, câu hỏi nghiên cứu là tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm và tỷ lệ các dạng thể chất trong sinh viên khoa YHCT là bao nhiêu? Thể chất YHCT có phải là yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm trong sinh viên khoa YHCT hay không?.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm và mức độ nguy cơ trầm cảm theo PHQ-9 trên sinh viên khoa Y học cổ truyền. Xác định tỷ lệ thể chất Cân bằng, các dạng thể chất thiên lệch phân loại bằng CCMQ. Xác định tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm theo PHQ-9 trong dạng thể chất Cân bằng và thể chất thiên lệch theo CCMQ.

Xác định mối liên quan giữa thể chất YHCT theo CCMQ với trầm cảm theo PHQ-9. Khái niệm Buồn chán là một phản ứng cảm xúc thường gặp của bất cứ ai trong cuộc sống. Khi các biểu hiện trở nên trầm trọng, kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng thích nghi của họ thì được gọi là rối loạn trầm cảm.26 Theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của cảm xúc biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ. Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục.

Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán.26 Theo mô tả kinh điểm, trầm cảm điển hình được biểu hiện bằng sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần, bao gồm: cảm xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế, hoạt động tâm thần bị ức chế.27,28 Quan điểm mới của trầm cảm được đặc trưng bởi 3 triệu chứng chính, đặc trưng là khí sắc giảm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến giảm các hoạt động và 7 triệu chứng phổ biến khác. Tuy nhiên đặc điểm triệu chứng của trầm cảm còn thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như mức độ của rối loạn trầm cảm, đặc điểm lứa tuổi mắc rối loạn trầm cảm. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm 1.1 Khí sắc trầm Các biểu hiện giảm khí sắc là biểu hiện thường gặp nhất ở các trạng thái trầm cảm. Mức độ của biểu hiện này thay đổi tuỳ theo mức độ trầm cảm.

Trong trường hợp điển hình người bệnh biểu hiện sự đau khổ, chán nản, buồn rầu một cách rõ. 5 ràng thông qua lời nói, thái độ và dáng điệu. Khí sắc trầm thường gặp là uể oải, cảm giác khó chịu, bất an, với nét mặt ủ rũ. Hoặc là biểu hiện một nét mặt có những nét đặc trưng như nếp nhăn ở khoé miệng, trán, cung lông mày đều cụp xuống, mắt luôn nhìn xuống hoặc đôi khi là nét mặt thờ ơ, vô cảm.

Sự bế tắc trong suy nghĩ với một nỗi buồn bao phủ mà không giải thích được có thể dẫn đến hành vi tự sát ở người bệnh trầm cảm. Tuy nhiên có một số người bệnh vẫn giữ được nụ cười bên ngoài để che dấu khí sắc giảm, bởi có 10-15% số người bệnh phủ định cảm xúc của mình.2 Mất quan tâm thích thú Mất quan tâm thích thú là một triệu chứng luôn song hành với giảm khí sắc nhưng ở các mức độ khác nhau. Các nghiên cứu đều cho kết quả 80-100% có rối loạn này.29-31 Người bệnh cảm thấy quá khứ, hiện tại và tương lai của mình không sáng sủa, đôi khi người bệnh không thể mô tả được trạng thái của mình. Người bệnh phàn nàn rằng họ ít hoặc không còn thích thú với các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.

Mọi vận động đều làm người bệnh tăng cảm giác chán nản, không có được cảm giác vui vẻ và hài lòng với thực tại dẫn đến không muốn tham gia các thú vui, giải trí, ngại tiếp xúc, mất các sở thích trước đây, không hoàn thành các công việc mình làm, do dự khó quyết định, vì vậy người bệnh thường né tránh, ngại các hoạt động xã hội, ngại giao tiếp với mọi người.3 Giảm năng lƣợng tâm thần Đây cũng là một triệu chứng đặc trưng của trầm cảm, các biểu hiện là người bệnh luôn uể oải, mệt mỏi, mất sinh lực, cảm thấy nặng nhọc khi làm việc kể cả một công việc trước đây người bệnh dễ dàng thực hiện. Do vậy người bệnh làm việc kém hiệu quả. Người bị rối loạn trầm cảm thường không hoàn thành công việc được giao phó hoặc bỏ dở công việc, hoặc rút lui vì mình cảm thấy không thể đảm đương.4 Biểu hiện lo âu Lo âu là một triệu chứng song hành với trầm cảm. Người bệnh thường có cảm giác lo âu, bồn chồn bất an, sợ hãi cho tình trạng sức khoẻ, các dự định và tương lai của mình.

Người bệnh có thể có các biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật như cảm giác hồi hộp, khó thở, đánh trống ngực, mạch nhanh, đau đầu, run rẩy tay chân, cảm giác nóng rát trong bụng, co thắt dạ dày, vã mồ hôi, nôn mửa. Người bệnh khó ngủ vì suy nghĩ nghiền ngẫm trong đêm, thức giấc lúc nửa đêm, ác mộng. Sự lo âu tồn tại dai dẳng một cách vô lý, căng thẳng, chờ đợi điều không mong muốn xảy ra. Nhiều khi có cơn hoảng sợ có thể có phản ứng tấn công người khác, hoặc nguy cơ hành vi tự sát.5 Ý tƣởng và hành vi tự sát Khi bị rối loạn trầm cảm và không được điều trị thỏa đáng.

Nhiều người bệnh có suy nghĩ dai dẳng, không thể dứt ra được về cái chết. Người bệnh luôn có cảm giác xung quanh không có mình thì sẽ tốt hơn cho nên lập kế hoạch tự sát và thực hiện hành vi tự sát. Nguy cơ tự sát gặp trong tất cả các giai đoạn bệnh nhưng cao nhất là ngay lúc mới điều trị. Các nghiên cứu cho rằng 10% người bệnh trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng từ khi phát bệnh.6 Các triệu chứng sinh học Các triệu chứng sinh học hay triệu chứng cơ thể thường gặp và quan trọng ở người bệnh trầm cảm và đặc biệt là người cao tuổi, phần lớn là các triệu chứng rối loạn hệ thần kinh thực vật.

Các biểu hiện triệu chứng cơ năng của hệ thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá,.29,30,37 Rối loạn giấc ngủ là dấu hiệu thường gặp hơn cả trong nhóm triệu chứng này (80-100%), với biểu hiện là giảm chất lượng giấc ngủ hoặc thời gian ngủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ