Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VAN DE VE TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Báo chí Báo chí ra đời từ trước công nguyên, đầu tiên là các bản tin được viết băng những ký hiệu, hình vẽ chép tay, khắc lên vỏ, thân cây, trên da thú., về sau mới có giấy in và các bản tin, thông báo được in trên giấy.
Đến khoảng thế kỷ XII, với xu hướng phát triển mới thì các bản tin, truyền tin ngày càng phát triển và đóng vai trò không thê thiếu trong đời sống xã hội. Báo chí hiện đại ngày nay bao gồm 4 loại: Báo in, báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình) và báo điện tử. Theo quan niệm từ trước đến nay, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng, truyền tải những những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo công chúng. Đặc điểm nổi bật của báo chí chính là tính công khai và sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp.
Theo Luật báo chí năm 2016 thì Báo chí được định nghĩa là: “ Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn dé trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dan tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, bảo nói, báo hình, báo điện tw. 05] Theo tác giả Đỗ Chí Nghĩa trình bày trong cuốn Vai trò báo chí trong định hướng dư luận xã hội đã định nghĩa khái nệm về báo chí : “Báo chí là loại hình các phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiên” [33, tr. Trong quyền Các loại hình báo chí truyền thông của tác giả Dương Xuân Sơn thì “ Khái niệm báo chí có thể được định nghĩa trên ba phương 18 diện: “ báo chí là một trong những hệ thông xã hội ”(định danh), “ bao chí là một hoạt động chính trị xã hội "(định tinh), “ bao chi là thứ vũ khí lợi hại trong cuộc dau tranh chính trị, tác động vào xã hội để tạo nên sự can thiệp gián tiếp vào đời sống chính trị, tham gia vào việc tập hợp các lực lượng, giáo dục ý thức và góp phan tích cực vào việc hình thành các khuynh hướng, các phong trào chính trị- xã hội ”(mục dich). 44, 45] Đối với tác giả Nguyễn Thành Lợi và Phạm Minh Sơn trong cuốn Thông tấn báo chí- Lý thuyết và kỹ năng thì khái niệm báo chí lại được hiểu là “ báo chí là những xuất bản, ấn phẩm phát hành định kỳ.
Ngoài ra, báo chí còn được xem là thuật ngữ dé chỉ các loại hình báo chí khác như phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình), báo mạng điện tu.13] Trong quyền Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí- xuất bản thì khái niệm báo chí được định nghĩa “Báo chí là phương tiện truyén thông đại chúng truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn.36] Như vậy Báo chí được định nghĩa theo nhiều ý kiến tác giả, nhưng chung quy nhất các nội dung thì Báo chí chính là một phương tiện thông tin đại chúng, có nhiệm vụ cung cấp những thông tin khách quan, thiết thực cho công chúng và được truyền tải bằng nhiều hình thức trên các nền tảng khác nhau. Báo điện tử Vào thập niên cuối của thế kỷ XX, báo mạng điện tử đã ra đời dựa trên thành tựu vĩ đại của nhân loại: mạng Internet toàn cầu. Chính sự ra đời của báo mạng điện tử đã đánh dâu một sự phát triên vượt bậc của báo chí, 19 một cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông và hơn hết thảy, nó mang đến một diện mạo mới, một cách làm báo mới và một cách chia sẻ thông tin đến độc giả hoàn toàn mới. Ở Việt Nam, báo mạng điện tử xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1997 là tờ báo Quê Hương đã tạo được tiếng vang, đánh dấu sự xuất hiện của một thé loại báo chí mới ở nước ta.
Tiếp theo đó là sự ra đời của các tờ báo như VietNamNet, Lao Động, Nhân Dân. góp phan tạo nên không khí thay đổi nhộn nhịp trong thể loại báo điện tử nói riêng và báo chí Việt Nam nói chung. Báo điện tử thường được định nghĩa “là hình thức báo chí mới, được hình thành từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nên tảng mang Internet toàn câu” [36, tr. 234] Luật Báo chí năm 2016 thì định nghĩa một cách ngắn gọn “Báo điện tử là loại hình sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gốm báo điện tử và tạp chí điện tứ.
6] Báo điện tử là loại hình báo chí mới nhất trong các loại hình báo chí. Loại hình báo chí này được có thể được định nghĩa là một thể loại báo chí có tính chất và đặc điểm giống các loại hình khác nhưng chỉ được phát hành trên nền tảng Internet. Mỗi bài báo có thể bao gồm nhiều hình thức sáng tạo nội dung như chữ viết kèm ảnh, chữ viết kèm video, video kèm lời bình, chữ viết kèm phát thanh, có các cách thể hiện nội dung mới như Inforgraphic, Big Data, báo chí dữ liệu. Doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp được quy định tại khoản 10, điều 4, Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13, ngày 26/11/2014: “Doanh nghiệp là tổ 20 chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [31, tr.
8] Theo Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam — 2020 của Bộ Kế hoạch Đầu tư - NXB Thống Kê thì giải thích thuật ngữ “Doanh nghiép.bao gom: cong ty trách nhiệm hữu han, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. 9] Khái niệm một số loại hình doanh nghiệp phổ biến theo Sách trang Doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu như sau: - Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ va các nghĩa vụ tai sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết vào doanh nghiệp. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyên nhượng theo quy định tại Điều 32 Luật Doanh nghiệp. Thành viên có thể là một tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50 người.
Luật đổi mới năm 2020 đã có quy định về việc công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty TNHH 1 thành viên được phát hành trái phiếu. So với quy định cũ, Luật Doanh nghiệp 2020 đã cho phép công ty TNHH được huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu. - Công ty cô phần: Công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần băng nhau. Cô đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Cổ đông có quyền tự do chuyền nhượng cổ phan của mình cho người khác, trừ khoản 3 Điều 55 và khoản 1 điều 58 của Luật Doanh nghiệp. Cổ đông có thé là tổ chức, cá nhân, số lượng cô đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán. - Công ty hợp danh: Là công ty trong đó phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thé có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín 21 nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không có quyền phát hành bắt kì loại chứng khoán nào. - Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, trái với doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nước ngoài.
Đây là doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cô đông. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tô chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Trách nhiệm xã hột của doanh nghiệp CSR là từ viết tắt của cụm từ “Corporate Social Responsibility” được tạm dịch là “Trach nhiệm xã hội doanh nghiệp”. Ở thời điểm hiện tại, có rat nhiều nghiên cứu về CSR, mỗi nghiên cứu lại đưa ra những khía cạnh khác nhau của vấn đề này, do đó chưa thống nhất và chưa đi đến một khái niệm nhất quán nào.
Định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được sử dụng rộng rãi và được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn là định nghĩa của theo mô hình Kim tự tháp của Carroll (1999) “Trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng từ thiện của một tổ chức mà xã hội mong đợi trong mỗi thời điểm nhất định”. Ong khang định rang CSR “chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các nhà quản lý trở nên đạo đức hơn thay vì thiếu đạo đức hoặc vô đạo đức.1: M6 hinh kim tu thap về CSR của Archie Carroll (1999) Nguồn: Brin và Nehme (2019) Bên cạnh đó, một định nghĩa khác về CSR trong bài viết Key recommendations from subgroup on “Corporate Social Responsibility” tam dich: Các đề xuất chính từ nhóm con về “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Ì của Ủy ban châu Âu -Ủy ban điều hành các vấn đề xã hội và nghề nghiệp nhận định rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm mà doanh nghiệp kết hop các yếu tố môi trường và xã hội trong quá trình hoạt động doanh nghiệp và trong mối tương tác với các bên hữu quan trên cơ sở tu nguyện". Định nghĩa CSR của của Ngân hàng thế giới (World Bank) trong báo cáo Opportunities and Options for Governments to Promote Corporate Social Responsibility in Europe and Central Asia tam dich: “Co hội và lựa chon dé Chính phủ thúc day Trach nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Chau Âu và Trung A”?