CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÂN TÍCH HIỆU QUÁ KINH DOANH Phân tích hoạt động kinh doanh (HDKD) có vai trò rất trọng trong việc đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên thực tế đã có nhiều công trình khoa học, các đề tài nghiên cứu về van đề này cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Mỗi công trình nghiên cứu có cách nhìn nhận về hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD khác nhau. Trước đây khi nền kinh tế Việt Nam là kế hoạch hóa tập trung chưa có yếu tố thị trường thì các doanh nghiệp không chú trọng nhiều đến việc phân tích hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên của tô chức thương mại thế giới WTO, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt thì nhu cầu được cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về phân tích, đánh giá HQKD của doanh nghiệp đối với các nhà quản lý và nhà đầu tư ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên Cứu trong nước Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những đề tài thuộc lĩnh vực kế toán được nhiều nghiên cứu sinh, giảng viên, kế toán viên, sinh viên ngành kế toán quan tâm. Vấn đề này đã được đề cập nhiều giáo trình của các trường Đại học, cao đăng, các bài báo nghiên cứu. Các nghiên cứu ở trên nhiều lĩnh vực đa dạng về vận tải thương mại, thiết bị điện, lương thực, vật liệu xây dựng.
Theo tác giả Bạch Thị Huyên (2022) đề tài hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất. Luận văn đã hệ thống hoá được những lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh, chỉ ra thực trạng phân tích hiệu quả kinh doanh ở các doanh nghiệp từ đó đánh giá được những hạn chế và tồn tại. Đã đề cập sâu đến các phương pháp cũng như nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, luận văn vẫn còn một số tồn tại như: Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu cho ngành, tác giả không chia thành các nhóm như chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hiệu quả sử dụng chỉ phí.
mà chỉ liệt kê một số chỉ tiêu nhất định. Theo tác giả Trần Ngọc Hưng, (2011) trong luận văn “Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản ly bay Việt Nam’’ đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản cũng như thực trạng về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Tuy nhiên, trong hệ thống các chỉ tiêu phân tích thì tác giả chưa đề cập đến các chỉ tiêu liên quan đến cô phiếu, chưa phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động, trong khi đó thông tin từ việc phân tích các chỉ tiêu này lại rất cần thiết cho việc ra các quyết định kinh doanh. Tác giả cũng chưa quan tâm nhiều đến việc tìm ra quy trình, chỉ tiêu cũng như phương pháp phân tích phù hợp.
Theo tác giả Trương Thi Bich Hao (2007) và tác giả La Thị Hồng Cam (2009 ) đã phân tích về hiệu quả kinh doanh của hai doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng. Trong bài nghiên cứu các tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích nói chung, phân tích được các chỉ tiêu tài chính, đánh giá hiệu quả kinh doanh và đều chỉ ra rằng hiệu quả của hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào yếu tố tài sản ngắn hạn, các khoản phải thu so với các khoản phải trả có xu hướng giảm, doanh nghiệp đây mạnh hoạt động kinh doanh thúc day tăng trưởng doanh thu. Bài nghiên cứu đánh giá được thực trạng, phân tích những ưu điểm và hạn chế của hệ thống chỉ tiêu phân tích tại các doanh nghiệp từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá hiệu quả kinh doanh. Theo tác giả Nguyễn Thị Mai Hương (2008), bài nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích HQKD đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động phân tích HQKD tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện đối với hoạt động phân tích HQKD tại các DN này. Trong đó, tác giả đề xuất hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích HQKD nhưng chỉ tập trung vào các chỉ tiêu phân tích HQKD về mặt tài chính ngắn hạn. Trên thế giới, nền kinh tế thị trường đã ra đời và phát triển từ khá lâu, vì vậy HQKD là một phạm trù kinh tế được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Các nhà nghiên cứu cũng rât chú trọng đên việc tìm ra các giải pháp đê nâng cao HQKD cho các DN.
Vì vậy hoạt động phân tích HQKD và các chỉ tiêu phân tích HQKD được đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu nước ngoài Theo các tác giả Bititci, Carrie, MeDevitt (2009) đã nghiên cứu chỉ rõ tầm quan trọng của HQKD và hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN. Trên cơ sở kinh nghiệm của các nghiên cứu trước ở các nước, tác giả đưa ra đề xuất xây dựng HTCT đánh giá HQKD theo mô hình kết hợp các chỉ tiêu đánh giá HQKD ở các khía cạnh khác nhau trong quá trình kinh doanh của DN đó. Đồng thời các tác giả cũng đề xuất một số mô hình điển hình như: mô hình Business classification model của tác giả Ginzberg; mô hình Performance measures classification model của Dixon, Nanni, Vollmann (1990); mô hình Business classification model của Puttick va Hill (1993).
Cùng chung quan điểm với nhóm tác giả trên, tac giả Singh va Raymond (2002) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của các chỉ tiêu phân tích HQKD của DN đặc biệt là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả quản lý hoạt động và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi. Các nghiên cứu trên, có công trình phân tích về cơ sở lý luận, có công trình kết hợp cả lý luận và thực tiễn về phân tích HỌKD, về hệ thong chi tiéu phan tich HQKD sử dung chung cho các loại hình DN và cho riêng một nganh, một doanh nghiệp cụ thé. Tuy nhiên các chỉ tiêu được sử dụng dé phân tích cũng đơn thuần là các chỉ tiêu tài chính truyền thống. Các tác giả chưa đề cập đến các chỉ tiêu phi tài chính giúp đánh giá HQKD của DN một cách cụ thé và chính xác hơn.
Tóm lại, thông qua các công trình nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn phân tích hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp có được những thành tựu sau: Thứ nhất, đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động phân tích HQKD và sự cần thiết phải xây dựng HTCT phân tích HQKD thích hợp giúp đánh giá HQKD của DN; Thứ hai, chỉ ra những hạn chế của HTCT phân tích HQKD chỉ sử dụng đơn thuần các chỉ tiêu tài chính để đánh giá mà không sử dụng kết hợp các chỉ tiêu phi tài chính với các chỉ tiêu tài chính giúp đánh giá HQKD của DN một cách đầy đủ và toàn diện; Thứ ba, các tác giả đã nêu được thực trạng hoạt động phân tích HQKD và các chỉ tiêu phân tích HQKD của các doanh nghiệp. Các tac gia cũng đã chỉ ra được những ưu điểm và những hạn chế của hệ thống phân tích HQKD tại các dianh nghiệp, đồng thời đưa ra các giải pháp xây dựng, hoàn thiện việc phân tích HQKD. Thứ tư, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD dựa vào mục tiêu, gắn với mục tiêu và giúp đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu của DN trong từng giai đoạn. Ngoài những kết quả đạt được như đã nêu trên, các nghiên cứu về phân tích HQKD còn nhiều hạn chế trong quan điểm và phương pháp phân tích HQKD cũng như xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD.
Các bài nghiên cứu chưa chỉ ra được tầm quan trọng của các chỉ tiêu phi tài chính trong việc đánh giá HQKD của DN một cách day đủ, toàn diện và chuẩn xác; Chưa gắn việc xây dựng các chỉ tiêu phân tích KQKD với việc đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu của DN. Bên cạnh đó, đối với các công trình nghiên cứu ngoài nước, chủ yếu là các nghiên cứu về HQKD, chưa di sâu nghiên cứu xây dựng HTCT phân tích HQKD cho từng lĩnh vực, từng ngành cụ thể, còn mang tính khái quát chung chung. Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái quát chung về phân tích hiệu quả kinh doanh 1.
Khải niệm Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó xuất phát và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, các yếu tố cần thiết của doanh nghiệp dé tham gia vào hoạt động kinh doanh theo mục đích nhất định. Do lịch sử phát triển các hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau. Cách nhìn nhận đánh giá hiệu quả kinh doanh trên mỗi góc độ khác nhau mà có ý kiến trái ngược nhau về hiệu quả kinh doanh. Thứ nhất, quan điểm sớm nhất được các nhà nghiên cứu đưa ra đó là sự đồng nhất hiệu quả kinh doanh với các chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình đầu tư.
Điền hình cho quan điểm này là nhà kinh tế học người Anh- Adam Smith, cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá" (Kinh tế thương mại dịch vụ- Nhà xuất bản Thống kê 1998). Theo quan điểm này của Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh. Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả.
Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chỉ phí đầu vào của sản xuất. Thứ hai, là quan điểm cho rằng hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa cuối cùng được thê hiện ở trình độ tăng lợi ích kinh tế của xã hội và sự phát triển toàn diện của các thành viên trong xã hội đó dựa trên cơ sở khai thác và sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội.