Tổng quan luận án
Trong khoa học luật hình sự, tội phạm là chế định bao trùm và giữ vai trò nền tảng để xác lập các chế định trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt. Đồng phạm là hình thức phạm tội đặc biệt do có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người tham gia nhằm hướng đến mục đích chung. Việc bàn bạc, phân công vai trò trong đồng phạm làm cho tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thay đổi về chất, thường gây ra hậu quả thiệt hại lớn hơn so với tội phạm đơn lẻ do một cá nhân thực hiện. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, các vụ án được thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm 15,42% tổng số vụ án và chiếm 28,11% tổng số bị cáo được Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết.
Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên pháp điển hóa chế định đồng phạm, và Bộ luật hình sự năm 1999 tiếp tục kế thừa, cụ thể hóa các quy định này. Tuy nhiên, trước yêu cầu cải cách tư pháp và diễn biến phức tạp của tội phạm có tổ chức, các băng nhóm mang dấu hiệu mafia, các quy định hiện hành vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Nhiều nội dung quan trọng chưa được pháp luật quy định riêng biệt như: cơ sở trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, giai đoạn đồng phạm chưa hoàn thành, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự năm 2015 dù có sửa đổi, bổ sung một số điều khoản nhưng chưa giải quyết triệt để các hạn chế trên. Trong thực tiễn xét xử, sự thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật dẫn tới việc phán quyết quá nặng hoặc quá nhẹ. Điển hình tại Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc thành phố Hà Nội, tỷ lệ bản án đồng phạm bị hủy là 1,53% và bị sửa là 9,81%, cao hơn mức trung bình của các vụ án hình sự nói chung.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, đánh giá thực trạng pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp bảo đảm áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự đối với đồng phạm trong quá trình giải quyết vụ án.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết năm nhiệm vụ cụ thể:
- Nhiệm vụ a: Làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm như khái niệm, cơ sở xác định trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hình sự trong đồng phạm chưa hoàn thành, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm.
- Nhiệm vụ b: Phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, một số quốc gia trên thế giới và luật hình sự quốc tế về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm dưới góc độ so sánh nhằm khẳng định điểm kế thừa và kinh nghiệm tiếp thu.
- Nhiệm vụ c: Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm để rút ra nhận xét, đánh giá.
- Nhiệm vụ d: Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm ở giai đoạn xét xử; đánh giá kết quả, chỉ rõ 9 hạn chế cùng các nguyên nhân trong thực tiễn xét xử.
- Nhiệm vụ đ: Đề xuất việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung theo định hướng để hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và những giải pháp bảo đảm áp dụng quy định này trong thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác định dưới góc độ khoa học luật hình sự, khảo cứu hệ thống văn bản pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Thực tiễn áp dụng được nghiên cứu thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung đánh giá số liệu thực tế tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 10 năm (2006-2015) và phân tích ngẫu nhiên 300 bản án hình sự có đồng phạm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Việt Nam, vấn đề đồng phạm và trách nhiệm hình sự được nghiên cứu từ thập niên 1980 qua các giáo trình và sách chuyên khảo. Công trình "Hình luật XHCN phần chung" của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội (1983) đã tiếp cận với thuật ngữ "cộng phạm". Về khái niệm trách nhiệm hình sự, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2003) xác định đây là hậu quả bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước, thể hiện qua bản án kết tội có hiệu lực và các biện pháp cưỡng chế hình sự. Tác giả Lê Thị Sơn nghiên cứu trách nhiệm hình sự gồm hai mặt đan xen: Nhà nước thực hiện và người phạm tội gánh chịu, phát sinh từ khi tội phạm thực hiện đến khi xóa án tích, đồng thời khẳng định tính độc lập tương đối của hành vi tham gia. Tác giả Lê Văn Cảm phân định trách nhiệm hình sự theo nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực; định nghĩa đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên nhằm khắc phục hạn chế của Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999; tác giả phân chia ba nguyên tắc xác định trách nhiệm: không tránh khỏi trách nhiệm hình sự, phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Tác giả Đặng Văn Doãn tiếp cận đồng phạm dưới góc độ sự kiện và quan hệ pháp lý, phân biệt người đồng phạm theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Tác giả Cao Thị Oanh nghiên cứu yêu cầu phân hóa đường lối xử lý trong quyết định hình phạt. Tác giả Đào Trí Úc nhấn mạnh việc xác định vai trò, mức độ tham gia của từng người kết hợp với đánh giá hành vi chung của vụ án. Các tác giả Võ Khánh Vinh, Dương Tuyết Miên, Trần Văn Sơn xác định bản chất các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi bắt buộc theo luật định mà Tòa án phải tuân thủ. Tác giả Nguyễn Ngọc Hòa nêu rõ bốn căn cứ phân hóa: tính chất tham gia, mức độ tham gia, mức độ lỗi và nhân thân. Về giai đoạn thực hiện tội phạm, tác giả Trần Quang Tiệp khẳng định tính độc lập tương đối của hành vi xúi giục, giúp sức chưa đạt. Tác giả Nguyễn Quang Quýnh trong sách "Hình luật tổng quát" phân tích trường hợp tòng phạm và khái niệm "những trường hợp bó tay" theo luật thực định miền Nam trước năm 1975.
Khoa học luật hình sự Liên Xô và Liên bang Nga có hệ thống công trình chuyên sâu về trách nhiệm hình sự: Brainhin Ia.M (1963, 1955), Lêikina N.X (1968), Karpusin M.I (1974), Bagri-Sakhmatôv L.V (1976), Xantalôv A.I (1982), Alêkxeev N.Đ (1961), Zelđôv X.I (1974), Prokhorô B.X (1984), Xtrutchkôv N.A (1978), Sargorôđxki M.Đ (1968), Kôvalev M.I (1971), Bratux X.I, Ignatôv A.A (1996); các nghiên cứu chuyên khảo về đồng phạm gồm: Ph. Burơtrắc (1969, 1986), P. Grisaev (1959), Vlađimirơ Xônagiơ (1962), P. Telnốp (1974). Các học giả Liên Xô thống nhất xác định trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi gắn với biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với cá nhân người phạm tội.
Tại Trung Quốc, tác giả Lý Quang Xán (1957) xuất bản công trình chuyên khảo tại Bắc Kinh dựa trên quan điểm Mác - Lênin, phản biện các học thuyết hình sự tư sản, phân tích trách nhiệm của người xúi giục và hành vi tự đình chỉ; sách "Nguyên tắc hình pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" (1960) phân loại ba loại người đồng phạm thông thường và người tổ chức trong tập đoàn phạm tội có tổ chức. Trong hệ thống Thông luật và Châu Âu lục địa, Sherif Girgis khảo sát mặt chủ quan của đồng phạm trên Tạp chí Luật học Yale; nhóm tác giả A.J. Virgo trong "Criminal law: Theory and Doctrine" phân tích hành vi tham gia thứ cấp và trách nhiệm phái sinh; George P. Fletcher trong sách "Basic concepts of Criminal law" phân tích cấu trúc trừng phạt và bản chất phái sinh của người tòng phạm. Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, khoa học pháp lý quốc tế ghi nhận ba học thuyết: Thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability), Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) và Thuyết văn hóa (System/Culture Theory).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Trước thời điểm luận án công bố, chưa có công trình chuyên khảo cấp độ tiến sĩ luật học nào tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm như một đối tượng độc lập. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ hoặc khảo cứu một số vụ án cụ thể, chưa gắn kết khung lý luận với việc tổng kết toàn diện thực tiễn xét xử 10 năm tại địa bàn trọng điểm, chưa giải quyết thấu đáo các khoảng trống lập pháp của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015, cũng như vấn đề đồng phạm của chủ thể pháp nhân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Khung phân tích của luận án dựa trên học thuyết cấu thành tội phạm và tự do ý chí. Tự do ý chí là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm; sự thống nhất ý chí và việc tiếp nhận ý chí là điều kiện bắt buộc để hình thành quan hệ đồng phạm. Luận án áp dụng khái niệm cấu thành tội phạm bổ sung: cấu thành tội phạm của hành vi đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) được hình thành từ sự kết hợp giữa các dấu hiệu chung của chế định đồng phạm tại phần chung với cấu thành tội phạm cụ thể tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Đối với chủ thể pháp nhân, luận án áp dụng Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thông qua hành vi của thể nhân đại diện có thẩm quyền chỉ đạo, điều hành khi hành vi được thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân.
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích: Làm rõ nội hàm các quy phạm pháp luật trong và ngoài nước về đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm; đánh giá bản chất các quy định pháp luật và các phán quyết xét xử của Tòa án.
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu các nguồn sử liệu và văn bản pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm khoa học, chỉ ra các đặc điểm có tính quy luật của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và tổng hợp các số liệu xét xử về án đồng phạm, tỷ lệ bị cáo, tỷ lệ án bị hủy, sửa của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Phương pháp xã hội học: Thu thập ý kiến của cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng về thực trạng áp dụng quy định pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn Hà Nội thông qua việc phân tích ngẫu nhiên 300 bản án hình sự có đồng phạm; nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia đại diện cho các truyền thống pháp luật lớn.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm của Việt Nam với một số quốc gia và luật hình sự quốc tế nhằm rút ra các kinh nghiệm tiếp thu.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm hệ thống văn bản pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945, Bộ luật hình sự các năm 1985, 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và 2015; các văn bản chỉ đạo, giải thích áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao; số liệu thống kê xét xử 10 năm (2006-2015) của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; hồ sơ 300 bản án hình sự có đồng phạm được khảo sát ngẫu nhiên; cùng hệ thống tài liệu pháp luật quốc tế và các nước liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế (Liên Xô, Liên bang Nga, Trung Quốc, các quốc gia Thông luật và Châu Âu lục địa) về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Tác giả tổng kết các kết quả đạt được về khái niệm trách nhiệm hình sự, dấu hiệu đồng phạm, các nguyên tắc xử lý và căn cứ quyết định hình phạt; đồng thời chỉ rõ những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo, qua đó xác lập khoảng trống khoa học và cơ sở phương pháp luận cho việc triển khai đề tài.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm
Chương 2 làm rõ bản chất pháp lý của đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Luận án định nghĩa đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người (bao gồm thể nhân và pháp nhân) trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức. Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm là trách nhiệm cá nhân mang tính hỗn hợp, vừa chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm vừa chịu trách nhiệm độc lập theo mức độ tham gia.
Luận án phân tích ba nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm:
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm: Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh theo điều luật tương ứng;
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia: Mỗi người chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi cùng ý chí, không chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người khác;
- Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự: Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm của ai chỉ áp dụng riêng cho người đó.
Chương này cũng phân tích giai đoạn thực hiện tội phạm độc lập tương đối (xúi giục chưa đạt, giúp sức chưa đạt), điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của từng loại người đồng phạm, và trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm.
Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm ở giai đoạn xét xử
Chương 3 khái quát lịch sử lập pháp từ sau năm 1945 qua các thời kỳ trước Bộ luật hình sự năm 1985, thời kỳ Bộ luật hình sự năm 1985 và thời kỳ Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009, 2015).
Về thực tiễn xét xử, tác giả tổng hợp số liệu 10 năm (2006-2015) tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội:
| Tiêu chí thống kê thực tiễn xét xử |
Tỷ lệ / Số lượng |
| Tỷ lệ vụ án đồng phạm trên tổng số vụ án hình sự thụ lý |
15,42% |
| Tỷ lệ bị cáo trong các vụ án đồng phạm trên tổng số bị cáo |
28,11% |
| Tỷ lệ bản án đồng phạm bị Tòa án cấp trên hủy (cấp huyện Hà Nội) |
1,53% |
| Tỷ lệ bản án đồng phạm bị Tòa án cấp trên sửa (cấp huyện Hà Nội) |
9,81% |
| Số lượng bản án hình sự có đồng phạm được khảo sát ngẫu nhiên |
300 bản án |
| Giai đoạn khảo sát thực tiễn xét xử |
10 năm (2006 - 2015) |
Dựa trên việc phân tích 300 bản án mẫu, luận án chỉ ra 9 hạn chế, thiếu sót cụ thể trong thực tiễn xét xử: đánh giá không đúng tính chất và mức độ tham gia dẫn tới áp dụng hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ; thiếu phân hóa giai đoạn thực hiện tội phạm; sai sót trong việc xử lý hành vi vượt quá; và các trường hợp điều tra, truy tố, xét xử bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Tác giả phân tích các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới những tồn tại này.
Chương 4: Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm và các giải pháp bảo đảm áp dụng
Chương 4 đề xuất các giải pháp lập pháp: hoàn thiện định nghĩa đồng phạm mở rộng cho pháp nhân; tiêu chí phân loại vai trò đồng phạm; quy định cụ thể trách nhiệm hình sự ở giai đoạn đồng phạm chưa hoàn thành; điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với người tổ chức, xúi giục, giúp sức; và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm trong quyết định hình phạt. Về bảo đảm áp dụng, luận án đề xuất ban hành nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, nâng cao năng lực xét xử của Thẩm phán và tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động tư pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam.
- Luận án xây dựng định nghĩa khoa học về đồng phạm mở rộng cho cả thể nhân và pháp nhân; xác lập tự do ý chí và cấu thành tội phạm bổ sung là cơ sở pháp lý và thực tiễn của trách nhiệm hình sự trong đồng phạm; khẳng định tính chất hỗn hợp (trách nhiệm chung và trách nhiệm độc lập) của hình thức phạm tội này.
- Luận án làm rõ cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thông qua thể nhân đại diện theo Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm.
- Luận án tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật trong 10 năm (2006-2015) tại Hà Nội, chỉ rõ 9 nhóm hạn chế, thiếu sót điển hình của Tòa án trong giai đoạn xét xử kèm theo các nguyên nhân cơ bản.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Về lập pháp: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự về khái niệm đồng phạm, giai đoạn thực hiện tội phạm độc lập tương đối, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và các căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
- Về bảo đảm thi hành: Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm; chuẩn hóa quy trình phân hóa vai trò và đánh giá mức độ đóng góp của từng bị cáo; tăng cường đào tạo chuyên môn cho cán bộ tiến hành tố tụng nhằm khắc phục tỷ lệ án bị hủy, sửa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng chủ yếu ở giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân, chưa đi sâu vào toàn diện các giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát.
- Số liệu thống kê thực chứng và 300 bản án mẫu được khảo sát tập trung tại địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006-2015, chưa bao quát các địa phương khác trên cả nước.
- Nội dung trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong đồng phạm chủ yếu được phân tích dưới góc độ lý luận do Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có thực tiễn xét xử kiểm chứng tại thời điểm hoàn thành luận án.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn điều tra, truy tố trong các vụ án hình sự có đồng phạm.
- Khảo sát số liệu thực tiễn xét xử trên phạm vi toàn quốc để có góc nhìn so sánh đa chiều giữa các địa phương.
- Theo dõi và đánh giá thực tiễn xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội dưới hình thức đồng phạm khi các quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015 đi vào áp dụng thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật; các cán bộ làm công tác lập pháp tại các cơ quan của Quốc hội; các Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng.
Các nội dung có giá trị tham khảo bao gồm:
- Khung lý luận về cấu thành tội phạm bổ sung, ba nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự và cơ chế đồng phạm của pháp nhân tại Chương 2.
- Bức tranh thực chứng với bảng số liệu cụ thể và danh mục 9 nhóm sai sót thực tiễn xét xử tại Chương 3 giúp cán bộ tư pháp phòng tránh sai phạm trong quá trình giải quyết án.
- Các kiến nghị sửa đổi Bộ luật hình sự và định hướng ban hành nghị quyết hướng dẫn xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án định nghĩa đồng phạm như thế nào để khắc phục hạn chế của Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999?
Tác giả định nghĩa đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người (bao gồm thể nhân và pháp nhân) trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức. Định nghĩa này khắc phục cụm từ "cùng thực hiện một tội phạm" tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 vốn chỉ phản ánh người thực hành trong đồng phạm giản đơn, đồng thời mở rộng chủ thể đồng phạm sang cả pháp nhân.
-
Ba nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm được xác định trong luận án là gì?
Ba nguyên tắc gồm: (1) Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm (tất cả người đồng phạm bị truy tố, xét xử về cùng tội danh theo điều luật tương ứng); (2) Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia thực hiện tội phạm (chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi cùng ý chí, không chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người khác); (3) Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm (các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm của ai chỉ áp dụng riêng cho người đó).
-
Tỷ lệ các vụ án đồng phạm và tỷ lệ án bị hủy, sửa tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội được ghi nhận ra sao?
Theo số liệu thống kê trong luận án, các vụ án đồng phạm chiếm 15,42% tổng số vụ án và 28,11% tổng số bị cáo do Tòa án hai cấp thành phố Hà Nội thụ lý. Tỷ lệ bản án đồng phạm bị hủy tại Tòa án nhân dân cấp huyện là 1,53% và bị sửa là 9,81%, cao hơn mức trung bình của các vụ án hình sự nói chung và các vụ án không có đồng phạm.
-
Luận án áp dụng học thuyết nào để giải thích trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong đồng phạm?
Luận án áp dụng Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability). Theo học thuyết này, hành vi và lỗi của thể nhân đại diện có thẩm quyền quản lý khi thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân được đồng nhất là hành vi và lỗi của pháp nhân. Giải quyết trách nhiệm hình sự của thể nhân đại diện là cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong quan hệ đồng phạm.
-
Điều kiện tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, xúi giục, giúp sức khác người thực hành thế nào?
Người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi tự mình từ bỏ hành vi và ngăn chặn hành vi của mình hỗ trợ người khác. Ngược lại, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức chỉ được miễn trách nhiệm hình sự nếu họ có hành vi tích cực ngăn chặn có hiệu quả việc thực hiện tội phạm và hậu quả nguy hại không xảy ra trên thực tế.
Kết luận
Luận án của tác giả Phí Thành Chung đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam. Công trình làm rõ các khái niệm nền tảng, xác lập cơ sở cấu thành tội phạm bổ sung, ba nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự và cơ chế xử lý pháp nhân trong đồng phạm. Thông qua khảo sát 300 bản án thực tiễn trong giai đoạn 10 năm tại thành phố Hà Nội, luận án đã chỉ ra 9 nhóm hạn chế trong công tác xét xử và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cùng biện pháp bảo đảm áp dụng nhằm hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tài liệu học thuật cho khoa học luật hình sự và hoạt động tư pháp tại Việt Nam.