Chương 1: Những vấn đề lí luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân và nghiên cứu so sánh trách nhiệm hình sự của pháp nhân Chương 2: So sánh quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự các quốc gia được nghiên cứu Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam 8 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án 1. Cơ sở lí luận của việc truy cứu TNHS của pháp nhân Việc quy TNHS cho pháp nhân phải dựa trên những cơ sở lí luận riêng biệt, hợp lí, không giống như hệ thống lý thuyết truyền thống về TNHS của cá nhân. Những vấn đề cơ bản đặt ra đổi với chủ thể này nhằm lí giải việc áp dụng TNHS đối với pháp nhân có thể được hay không, loại hình pháp nhân nào phải chịu TNHS, pháp nhân phải chịu TNHS trong trường hợp nào, việc ghi nhận TNHS của pháp nhân có làm thay đổi hệ thống lý thuyết về tội phạm và TNHS truyền thống không, những hình phạt nào có thể áp dụng được với pháp nhân.
Các công trình nghiên cứu về cơ sở lí luận cho việc quy định TNHS của pháp nhân ở Việt Nam và nước ngoài cũng tập trung làm rõ những nội dung cơ bản này. Thứ nhất, việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân được lí giải thông qua một số học thuyết phổ biến như học thuyết trách nhiệm thay thế, học thuyết đồng nhất trách nhiệm và thuyết văn hoá/hệ thống pháp nhân. Học thuyết trách nhiệm thay thế vốn xuất phát từ luật dân sự, đây được coi là một hình thức quy trách nhiệm đặc trưng trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực hình sự, khi xác định TNHS của pháp nhân, học thuyết lí giải việc áp đặt trách nhiệm từ việc thực hiện hành vi phạm tội của người làm công hoặc đại lý lên người đứng đầu hoặc pháp nhân.
Đối tượng “thay thế” ở đây là TNHS, do vậy, để có thể quy kết TNHS cho pháp nhân theo học thuyết này, cần phải xác định điều kiện cho phép thay thế đó là: (1) cá nhân đã thực hiện một hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, (2) cá nhân này đã thực hiện hành vi được pháp nhân giao cho và tuân thủ quy định của pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích cụ thể về nội dung cũng như mức độ ảnh hưởng của học thuyết này trong những giai đoạn nhất định, ở những phạm vi xác định. Ở nước ngoài, bài viết của tác giả Andrew Weissmann, Một tiếp cận mới về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (A new approach to corporate criminal liability), đăng trên Tạp chí luật hình sự Hoa Kỳ 9 cũng tập trung phân tích về học thuyết TNHS thay thế. Tuy nhiên, nghiên cứu này không chỉ đề cập đến nội dung và ảnh hưởng của học thuyết trách nhiệm thay thế (vicarious theory) với luật pháp Hoa Kỳ, mà còn chỉ ra một số điểm hạn chế, cần xem xét lại của học thuyết này liên quan đến hiệu quả phòng ngừa tội phạm khi áp dụng hình phạt đối với pháp nhân trên cơ sở học thuyết TNHS thay thế.
Theo đó, việc áp đặt hình phạt đối với pháp nhân trong nhiều trường hợp khi áp dụng học thuyết này này không có ý nghĩa phòng ngừa vì bản thân pháp nhân không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát hoàn toàn hoạt động của nhân viên trong công ty mình, nhất là đối với những pháp nhân có quy mô lớn. Đồng thời, việc áp dụng trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân đôi khi hiệu quả hơn, mang lại lợi ích tốt hơn đối với người bị hại trong các vụ việc. Không những thế, cần hạn chế các trường hợp áp đặt TNHS lên pháp nhân theo học thuyết này, đặc biệt trong trường hợp các công ty đa quốc gia, công ty đại chúng có quy mô lớn. Tác giả Meaghan Wilkinson với bài viết Trách nhiệm hình sự của pháp nhân- Bước tiến theo hướng thừa nhận lỗi của pháp nhân (Corporate Criminal Liability- The Move towards Recognising genuine Corporate Fault), đề cập đến vấn đề xác định lỗi của pháp nhân trên cơ sở của hai học thuyết là học thuyết TNHS thay thế và học thuyết TNHS đồng nhất.
Ở Việt Nam, tác giả ít nghiên cứu độc lập một học thuyết, thông thường, nội dung và mức độ ảnh hưởng của các học thuyết được phân tích trong những nghiên cứu tổng hợp về cơ sở lí luận về TNHS của pháp nhân. Đồng tình với quan điểm của tác giả Andrew Weissmann, một số tác giả trong nước cũng chỉ rõ hạn chế của học thuyết này khi áp dụng để quy kết TNHS của pháp nhân là phạm vi “thay thế” quá rộng, khó có thể hiệu quả đối với pháp nhân có quy mô lớn, các công ty đa quốc gia. Điển hình như tác giả Trần Văn Độ với bài viết Các học thuyết về cơ sở trách nhiệm hình sự của pháp nhân đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2011, nhóm tác giả trong công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ do tác giả Cao Thị Oanh chủ trì Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, tác giả Trịnh Quốc Toản trong nhiều nghiên của của mình như Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sự một số nước trên thế giới, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2003,… 10 Học thuyết TNHS đồng nhất (Identification liability) lí giải việc xác định TNHS của pháp nhân trên cơ sở coi hành vi và lỗi của cá nhân chính là hành vi, lỗi của pháp nhân. Đối tượng đồng nhất trực tiếp ở đây là hành vi và lỗi, đối tượng đồng nhất gián tiếp là TNHS.
Các điều kiện của việc đồng nhất là: (1) hành vi phạm tội phải được thực hiện bởi người đứng đầu, người chỉ đạo điều hành, người quản lí của pháp nhân; (2) họ thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho pháp nhân; (3) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân. Trong nghiên cứu Học thuyết đồng nhất, mối quan hệ nhân quả và trách nhiệm của pháp nhân với tội vô ý làm chết người (The Doctrine of Identification, Causation and Corporate liability for manslaughter, The Journal of Criminal Law, Vol 67, part 1, tr.69-82), tác giả Simon Parsons đã phân tích khá cụ thể về học thuyết này cũng như việc áp dụng học thuyết để xác định TNHS của pháp nhân, đặc biệt là trong trường hợp pháp nhân có lỗi vô ý gây ra hậu quả chết người. Học thuyết này cũng được đề cập đến tương đối chi tiết trong nghiên cứu Trách nhiệm hình sự của pháp nhân- Bước tiến theo hướng thừa nhận lỗi của pháp nhân (Corporate Criminal Liability- The Move towards Recognising genuine Corporate Fault) của Meaghan Wilkinson khi xác định lỗi của pháp nhân. Thuyết văn hoá/hệ thống pháp nhân (culture/system theory) là một trong những học thuyết xuất hiện muộn hơn.
Khác với hai học thuyết trên, thuyết hệ thống/văn hóa xác định TNHS của pháp nhân thông qua đánh giá vấn đề văn hóa của pháp nhân và việc thực hiện các quy định đó trong thực tế. “Văn hóa pháp nhân được hiểu là “thái độ, chính sách, nội quy, trật tự quản lý hay tiến hành các hoạt động được pháp nhân duy trì”. Văn hóa pháp nhân được thể hiện qua những yếu tố là: 1/ Nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức, pháp nhân trao cho một người hay một số người nào đó quyền để thực hiện hành vi cấu thành tội phạm; hoặc 2/ Người của tổ chức hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội vì tin tưởng một các có căn cứ hoặc hợp lý (qua văn hóa tổ chức, pháp nhân) rằng nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức, pháp nhân sẽ cho phép hoặc chấp nhận những hành vi như vậy”.2 Theo học thuyết này, điều kiện để truy cứu TNHS đối với pháp nhân là: (1) nhân viên của pháp nhân đã thực hiện hành vi 2 Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Luận văn thạc sỹ luật học, Tp. Hồ Chí Minh, tr.
11 trong phạm vi được giao và uỷ quyền; (2) pháp nhân chỉ đạo, ủng hộ, chấp nhận hành vi của nhân viên. “Văn hóa công ty” nền tảng cho trách nhiệm hình sự của pháp nhân (“Corporate Culture” as a basis for the criminal liability of corporations) của Allens Arthur Robinson là một trong những công trình nghiên cứu bàn riêng về thuyết văn hoá pháp nhân. Trên cơ sở phân tích luật thực định của rất nhiều quốc gia trên thế giới, ở hai TTPL, ở nhiều khu vực và châu lục khác nhau như Úc, Anh, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc,. nghiên cứu đã chỉ ra và chứng minh những ảnh hưởng của thuyết văn hóa đến các quy định về TNHS của pháp nhân.
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã phân tích và lí giải cho việc áp đặt TNHS của pháp nhân trên cơ sở nội dung, sự phát triển và ảnh hưởng của ba học thuyết kể trên trong thực tiễn lập pháp. Đa số đều là những nghiên cứu tổng hợp về cả ba học thuyết.