Tổng quan nghiên cứu

Năm 2015, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt mức 2.109 USD, đưa đất nước chính thức bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, đi cùng sự tăng trưởng kinh tế, năng lực quản trị công lại bộc lộ nhiều khoảng cách so với kỳ vọng của xã hội. Theo đánh giá từ Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 1996 đến 2015, chỉ số Tiếng nói và Trách nhiệm giải trình của Việt Nam liên tục nằm ở mức rất thấp, chỉ đạt 10 trên 100 điểm. Đồng thời, một khảo sát độc lập do cơ quan phát triển quốc tế tài trợ cho thấy tỷ lệ cơ quan nhà nước phản hồi các kiến nghị của công dân qua báo chí chỉ đạt 25%, trong đó có đến 75% phản hồi mang tính chất chung chung, né tránh đi vào bản chất vấn đề.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ nguyên nhân vì sao trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước tại Việt Nam duy trì ở mức thấp trong nhiều năm dù đã qua nhiều đợt cải cách thể chế. Đề tài tập trung phân tích sâu trường hợp Đề án Cải tạo, thay thế 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố tại thành phố Hà Nội với tổng kinh phí xã hội hóa hơn 73 tỷ đồng vào năm 2015. Mục tiêu cụ thể là mổ xẻ nội dung của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP và đánh giá thực tiễn tương tác giữa chính quyền với công chúng trong xử lý khủng hoảng chính sách. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp căn cứ khoa học để tái cấu trúc thể chế giám sát, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ phản hồi thực chất của cơ quan công quyền lên trên 80% và gia tăng niềm tin của người dân vào nền hành chính phục vụ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba khung lý thuyết nền tảng trong khoa học chính sách và quản trị công hiện đại. Thứ nhất là Lý thuyết Người chủ và Người thừa hành (Principal-Agent Theory), lý giải tình trạng thông tin bất cân xứng và rủi ro đạo đức khi cán bộ công quyền theo đuổi lợi ích cục bộ thay vì phục vụ người ủy quyền tối cao là nhân dân. Thứ hai là Khung phân tích Trách nhiệm giải trình của Mark Bovens (2007) và Cendon (1999), phân định 4 dạng trách nhiệm giải trình chính gồm: chính trị, hành chính, nghề nghiệp và trước xã hội; đồng thời đánh giá văn bản pháp luật dựa trên 3 trụ cột nhận thức: tính dân chủ, bảo vệ nhân quyền nhằm ngăn chặn lạm quyền, và năng lực tự học hỏi của tổ chức. Thứ ba là Lý thuyết Thể chế của Francis Fukuyama (2004), phân tích năng lực tiếp nhận thể chế mới qua 4 yếu tố: thiết kế tổ chức, thiết kế hệ thống chính trị, cơ sở pháp lý và văn hóa xã hội.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: tính minh bạch (transparency) - việc công khai thông tin công vụ; khả năng biện minh (answerability) - nghĩa vụ lập luận và chứng minh tính hợp lý của hành động; tính cưỡng chế thực thi (enforceability) - cơ chế áp đặt chế tài xử phạt; và trách nhiệm giải trình trước xã hội (social accountability) - mối quan hệ tương tác trực tiếp giữa cơ quan hành chính với công chúng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua thiết kế nghiên cứu trường hợp điển hình duy nhất (single case study). Cỡ mẫu phân tích tập trung vào 3 cơ quan hành chính trọng điểm gồm Sở Xây dựng thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Thanh tra thành phố Hà Nội, đặt trong mối tương quan với 2 tổ chức xã hội dân sự đại diện là nhóm Vì Một Hà Nội Xanh và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Việc lựa chọn mẫu điển hình cho phép đi sâu bóc tách từng chuỗi sự kiện, khảo sát chi tiết 21 câu hỏi chất vấn từ báo chí và đánh giá toàn diện các tương tác thực tế giữa người dân và chính quyền trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 7 năm 2015.

Phương pháp phân tích nội dung văn bản (content analysis) được sử dụng để đối chiếu toàn diện 100% điều khoản của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP với dự thảo ban đầu và Nghị định số 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh đô thị. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp đa tầng từ hơn 50 văn bản chính thức gồm Kết luận thanh tra số 904/KL-TTTP, Thông báo số 94/TB-UBND, cùng bộ dữ liệu PAPI giai đoạn 2009 đến 2015. Lý do lựa chọn phân tích định tính chuyên sâu là nhằm nhận diện các khoảng trống thể chế và các rào cản văn hóa vô hình mà phương pháp định lượng thuần túy không thể bao quát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự thiên lệch pháp lý rõ rệt trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, biến văn bản này thành công cụ bảo vệ người giải trình hơn là thúc đẩy quyền giám sát của công dân. Điều 9 của Nghị định trao cho cơ quan nhà nước 4 quyền và 3 điều kiện từ chối tiếp nhận, trong khi người dân tại Điều 7 và Điều 8 chỉ có 3 quyền hạn chế và không có quyền khiếu nại nếu việc giải trình không thỏa đáng. Rào cản tại Điều 6 quy định nội dung yêu cầu phải xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi cá nhân đã loại bỏ hoàn toàn 100% vai trò giám sát của báo chí và các tổ chức xã hội đối với các chính sách công cộng.

Thứ hai, việc thực thi trách nhiệm giải trình thực tế chỉ diễn ra khép kín trong nội bộ dưới dạng trách nhiệm hành chính và chính trị. Trong vụ việc thay thế cây xanh, cơ quan chức năng chỉ báo cáo theo chiều dọc lên cấp trên mà từ chối đối thoại với công chúng. Kết quả xử lý kỷ luật sau thanh tra áp dụng với 12 cán bộ nhân viên, nhưng có tới 66,7% (8 trên 12 người) chỉ nhận hình thức kiểm điểm, khiển trách hoặc cảnh cáo; tỷ lệ giáng chức, cách chức và buộc thôi việc chỉ chiếm 33,3% (4 trên 12 người), tập trung chủ yếu vào cấp thừa hành trực tiếp.

Thứ ba, quy trình lập pháp thiếu tính độc lập và khách quan. Việc giao cho Thanh tra Chính phủ chủ trì soạn thảo Nghị định số 90/2013/NĐ-CP trong suốt 3 năm (từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 8 năm 2013) dẫn đến tình trạng cơ quan chịu sự điều chỉnh tự thiết kế các quy định có lợi cho mình. Tỷ lệ tiếp thu các ý kiến đóng góp ngoài khu vực nhà nước gần như bằng 0%, khiến văn bản luật bị thu hẹp phạm vi chỉ còn là việc giải trình thụ động khi có yêu cầu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên xuất phát từ sự chi phối của các đặc trưng văn hóa truyền thống. Văn hóa tập thể và tính thứ bậc tạo nên tâm lý ỷ lại vào tập thể, làm mờ nhạt vai trò cá nhân của người đứng đầu khi ban hành quyết định. Cán bộ công quyền thường viện dẫn lý do làm đúng quy trình để biện minh cho các kết quả thiếu hiệu quả. Bên cạnh đó, văn hóa linh hoạt, dĩ hòa vi quý dẫn đến xu hướng thỏa hiệp nội bộ, làm triệt tiêu tính răn đe của các chế tài pháp luật.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của Vu và Deffains (2013) khi chỉ ra rằng các cơ chế giải trình chính thức tại Việt Nam tạo ra rất ít động lực thực thi trên thực tế. Nghiên cứu của Trần Thị Bích (2014) trên bộ dữ liệu PAPI tại 5 thành phố lớn cũng khẳng định tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đang bị vô hiệu hóa trong việc nâng cao mức độ hài lòng của người dân. Để minh họa trực quan, các dữ liệu này có thể được trình bày thông qua bảng đối sánh quyền hạn giữa các bên theo Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, kết hợp biểu đồ thể hiện sự đối lập giữa tỷ lệ kỷ luật nội bộ 100% với tỷ lệ phản hồi thỏa đáng trước xã hội 0% trong vụ việc cây xanh Hà Nội.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, mở rộng không gian pháp lý cho xã hội dân sự và quyền giám sát của người dân. Quốc hội cần ưu tiên ban hành Luật Tiếp cận thông tin, Luật về Hội và Luật Biểu tình trong lộ trình 24 đến 36 tháng tới. Mục tiêu là thiết lập cơ chế pháp lý chính danh cho các tổ chức cộng đồng tham gia phản biện chính sách, nâng tỷ lệ phản hồi giải trình của các cơ quan nhà nước đối với kiến nghị xã hội từ 25% lên ít nhất 75% vào năm 2020.

Hai là, đổi mới căn bản quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần chuyển giao quyền chủ trì soạn thảo các đạo luật quan trọng sang các cơ quan độc lập hoặc các viện nghiên cứu chính sách. Ban soạn thảo phải dành tối thiểu 60 ngày lấy ý kiến công khai của người dân và công bố báo cáo tiếp thu, giải trình 100% các ý kiến phản biện trên cổng thông tin điện tử trước khi trình phê duyệt.

Ba là, sửa đổi và thay thế toàn diện Nghị định số 90/2013/NĐ-CP theo chuẩn mực quản trị quốc tế. Chính phủ cần bổ sung định nghĩa đầy đủ về trách nhiệm giải trình, bao gồm cả nghĩa vụ chứng minh tính đúng đắn và nghĩa vụ gánh chịu hậu quả pháp lý. Bãi bỏ hoàn toàn điều kiện ràng buộc về quyền lợi trực tiếp tại Điều 6, mở rộng quyền yêu cầu giải trình cho báo chí và giảm thời hạn giải trình bắt buộc từ 15 ngày xuống không quá 7 ngày làm việc.

Bốn là, chuẩn hóa văn hóa công vụ và thiết lập cơ chế từ chức của người đứng đầu. Bộ Nội vụ và Ủy ban nhân dân các cấp cần chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm soát thủ tục sang đánh giá hiệu quả đầu ra. Áp dụng quy định từ chức bắt buộc đối với thủ trưởng cơ quan nếu để xảy ra sai phạm nghiêm trọng gây bất bình trong trên 50% dư luận xã hội, tạo áp lực thực chất buộc người lãnh đạo phải đối thoại công khai với nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và chuyên viên pháp chế tại các cơ quan trung ương. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn sâu sắc để rà soát, sửa đổi các quy định về trách nhiệm công vụ, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và nâng chỉ số hiệu quả quản trị PAPI cấp tỉnh lên trên 70 điểm.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước, ủy ban nhân dân các cấp và đội ngũ công chức thực thi. Nghiên cứu mang lại bài học kinh nghiệm sâu sắc về quản trị khủng hoảng truyền thông chính sách, chuyển đổi tư duy hành chính mệnh lệnh sang tư duy phục vụ, giúp xử lý trên 90% khiếu nại, kiến nghị của công dân một cách minh bạch.

Nhóm thứ ba là các cơ quan báo chí truyền thông, tổ chức xã hội dân sự và các nhà hoạt động cộng đồng. Tài liệu trang bị khung lý thuyết và cơ sở pháp lý vững chắc giúp các tổ chức dân sự thực thi quyền giám sát độc lập, nâng cao chất lượng phản biện đối với các dự án đô thị có quy mô đầu tư từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Luật học. Đề tài là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình, kết hợp hài hòa giữa lý thuyết quản trị phương Tây và thực tiễn thể chế tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Trách nhiệm giải trình theo chuẩn quốc tế khác biệt như thế nào so với quy định hiện hành tại Việt Nam? Trả lời: Theo chuẩn mực quốc tế của Mark Bovens và OECD, trách nhiệm giải trình cấu thành từ 3 yếu tố: công khai thông tin, nghĩa vụ tranh luận biện minh và gánh chịu chế tài xử phạt nếu vi phạm. Ngược lại, quy định tại Việt Nam trước đây chỉ xem giải trình là việc cung cấp thông tin một chiều theo thủ tục hành chính nội bộ, thiếu hoàn toàn cơ chế chịu trách nhiệm và chế tài trước xã hội.

Câu hỏi 2: Tại sao Đề án 6.700 cây xanh ở Hà Nội năm 2015 lại trở thành điển hình về khủng hoảng giải trình? Trả lời: Đề án dự kiến đốn hạ 6.700 cây xanh với kinh phí hơn 73 tỷ đồng nhưng không tham vấn ý kiến cộng đồng. Khi dư luận phản ứng, chính quyền phản hồi chậm trễ, phát ngôn thiếu chuẩn mực và từ chối 100% các văn bản yêu cầu giải trình của các nhóm dân sự, làm bộc lộ sự bất cập của cơ chế giải trình nội bộ trước áp lực xã hội.

Câu hỏi 3: Điều khoản nào trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP tạo kẽ hở cho cơ quan công quyền né tránh giải trình? Trả lời: Rào cản lớn nhất nằm ở Điều 6, yêu cầu nội dung giải trình phải liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu. Quy định này tước bỏ quyền giám sát của các cơ quan báo chí và tổ chức xã hội đối với các vấn đề công ích chung, tạo cơ sở cho cơ quan hành chính từ chối cung cấp thông tin.

Câu hỏi 4: Yếu tố văn hóa tập thể và thứ bậc ảnh hưởng như thế nào đến tính minh bạch công vụ? Trả lời: Văn hóa tập thể và thứ bậc khiến các quyết định quản lý nhân danh tập thể, tạo tâm lý ỷ lại và né tránh trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Ngoài ra, thói quen ứng xử linh hoạt và ưa chuộng sự hài hòa nội bộ khiến các sai phạm thường dừng lại ở mức rút kinh nghiệm sâu sắc, làm suy giảm tính răn đe của luật pháp.

Câu hỏi 5: Làm thế nào để nâng cao chỉ số Tiếng nói và Trách nhiệm giải trình của Việt Nam trên trường quốc tế? Trả lời: Việt Nam cần triển khai đồng bộ ba giải pháp: hoàn thiện khung pháp lý mở rộng quyền tiếp cận thông tin của công dân; minh bạch hóa toàn bộ quy trình lập pháp và thực thi chính sách; đồng thời thiết lập cơ chế giám sát độc lập bên ngoài bộ máy hành chính với mục tiêu nâng điểm quản trị lên trên 50 trên 100 điểm.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ 3 nguyên nhân cốt lõi khiến trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính Việt Nam chậm cải thiện, đặc biệt là sự thiếu vắng của nhánh trách nhiệm giải trình trước xã hội.
  • Công trình đã chỉ rõ những bất cập mang tính hệ thống của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP khi bảo vệ thái quá người giải trình và tạo rào cản đối với quyền tiếp cận thông tin của công dân.
  • Phân tích sâu sắc tác động đa chiều của văn hóa tập thể, tính thứ bậc và sự thỏa hiệp nội bộ đến hành vi né tránh trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá gắn với lộ trình cải cách thể chế từ 3 đến 5 năm tới, bao gồm phát triển xã hội dân sự, đổi mới quy trình lập pháp và áp dụng cơ chế từ chức.
  • Kêu gọi các cơ quan quản lý nhà nước nhanh chóng chuyển đổi sang mô hình quản trị công hiện đại, lấy người dân làm trung tâm phục vụ nhằm củng cố tính chính danh và xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh.