CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE TRACH NHIEM BOI THUONG THIET HAI DOLAM Ô NHIEM MOI TRƯỜNG 1. Kháiniệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 1.Khái niệm trách nhiệm bồi tường thiệt hai do làm ô nhiễm mdi trường a Ô nhiễm môi thường Ô nhiễm môi trường là van dé cap bách của nhiều nước trên thé giới và ở cả Việt Nam. Tai nước ta, thực trang ô nhiém môi trường đang điển ra ngày mot nghiêm trong. Ô nhiễm môi trường là hiện tương môi trường tư nhiên bi ô nhiễm, gây thay đôi trong các tính chat sinh học, hóa hoc và vật ly của môi trường.
Điều nay có tác đông tiêu cực đền sức khée của con người và sinh vật khác trong tự nhiên Nguyên nhân chính của ô nhiém môi trường thường bat nguôn tử hoạt đông xả thai của con người trong đời sông hàng ngày, sinh hoạt và quá trình sản xuất. Ngoài ra, mét so hoạt động tự nhiên cũng đóng góp vào ô nhiém môi trường. V ân đề biên đôi khí hậu ở V iệt Nam hiện đang nhận được sự quan tâm lớn Ô nhiễm môi trường 1a van dé cập bách của nhiều nước trên thê giới và ở cả Việt Nam. Tại nước ta, thực trạng ô nhiém môi trường đang dién ra ngày một nghiêm trong.
Theo một báo cáo va thông kê cho thay, tại Việt Nam có tới 183 khu sản xuất công nghiệp thì có khoảng 60% chưa có hệ thông xử lý nước thải, rác thải và khí thai, từ đó làm ảnh hưởng tiêu cực dén cuộc sống của con người và động- thực vật. Bên canh đó, tại các khu đô thi, chỉ có khoảng 60% - 70% các chat thai rắn được thu gom. Các nguồn thoát nước, xử lý nước thải thường không được xử lý mà đã bi xả trực tiếp 1a bên ngoài môi trường, b Thiét hại do làm 6 nhiễm môi trường Căn cứ theo khoản 1 Điều 130 Luật Bao vệ môi trường 2020 có quy định về thiệt hại do ô nhiềm, suy thoái môi trường và nguyên tắc xác định trách nhiệm bôi thường thiệt hại về nuôi trường, được xác định thông qua việc gây ảnh hưởng tác đông xâu đền các yêu tổ sau: - Chức năng, tính hữu ích của môi trường, 1 - Tinh mang, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bên canh việc xác định thiệt hại do ô rửiễm môi trường gây ra thì việc xác định tô chức, cá nhân gây thiệt hại về môi trường phải bảo dam kịp thời, khách quan va công bằng. Hiện nay trên thé giới tồn tei hai quan điểm khác nhau về thiệt hai do lam ÔNMT Quan điểm thứ nhật cho rang thuật hai do làm ONMT chỉ là những thiệt hại đối với các yêu tô môi trường tự nhiên như động vật, thực vật, đất, nước, không khí.
và không có thiệt hại đối với tài sản, tính mang con người Cu thé: Tại Tuyên bó của Liên Hợp quốc về môi trường và phát triển năm 1992, Công ước về đa đang sinh hoc 1992 thì đều cho rằng thiệt hai về môi trường chỉ có những yêu tô: Động vật, thực vật, dat, nước và các yêu tó khí hậu, Tai san vật chất, C anh quan, Môi quan hệ tương hỗ giữa các yêu tô trên””. Những định nghia hợp pháp nhất về thiệt hai do 6 nhiém, suy thoái môi trường gây ra nên không bao gồm con người va tài sản của họ. Quan điểm thứ hai cho rằng, thiệt hại do làm ONMT là thiệt hai không những đối với môi trường tự nhiên ma còn thiệt hai đối với tính mang, tai sản của con người. Cu thể là: Tai Công hoa liên bang Nga, định ngiĩa thiệt hai do ô nhiém mdi trường gồm thiệt hai về sức khỏe cá nhiên bị gây ra một cách trực tiệp hoặc gián tiếp từ ô nhiễm môi trường 7Con theo pháp luật Viét Nam quy đình: “Thiệt hai do 6 nhiễm, suy thoải mỗi trường gồm: Sty giảm chức năng tinh hữatích của môi trường; Thiệt hai về tính mạng sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cả nhân do hận qua của việc suy giảm chức năng.
tinh hữat ích của môi trường gây ra’? Theo tác giả, mỗi quan điểm trên đều có ưu và nhược điểm riêng, Đối với quan điểm thứ nhất, thì ưu điểm lớn nhat là việc xác định thiệt hai sé đơn giần và nhanh chóng hon, từ đó xác đính các căn cứ XDTH cũng như chủ thể gây thiệt hại phải BTTH và cơ chế giải quyét khi có tranh chấp xảy ra sẽ dé thực hiện hơn Bên canh đó thì nhược điểm của quan điểm nay là không bao quát được hết mức độ thiệt hai thực tê xảy ra trên moi phương điện. Ở quan điểm thứ hai, có wu điểm hơn quan điểm thứ nhất khi da bao quát được day đủ mức ảnh hưởng của những hành vi vi phạm, tuy nhiên theo quan điểm này thi việc xác đính thiệt hai để yêu câu 2 Cang TÍN ges(10111 Tasch shits Wi đo#g toýt bại teria vi xã thai trái phép giyð nhifm mài trong. Lufa vin tục of bust bạc, Đại lạc Lư Ba Nhi Bá Nội 225 ` Điều] (3 ng? Báo vý mài trang nts 2014. 15 chủ thé gây 6 nluễm phải BTTH hét sức khó khăn và pinức tạp.
Có thé thay, khí phân tích khai tiệm “thiệt hại do ÔNMT” cân có cái nhìn bao quát về các thiệt hại xảy ra trên moi phương diện, từ đây mới có thé đưa ra các căn cứ XDTH cũng như chủ thé gây thiệt hai phải BTTH và cơ chế giãi quyết khi có tranh chấp xaéyra Với phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niém về “thiệt hại do ÔNMT” như sau: “Thiệt hại do ÔNMT là việc xáp ra gây ảnh hướng, tác động xâu đến sức khỏe, tính mạng con người; làm stg' giảm về chức năng tinh hữu ích của môi trường ” ©. Khải niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hai do làm 6 nhiém mỗi trường Trách nhiệm BTTH 1a một chế định quan trong của pháp luật dan sự các nước nói chung va của Việt Nam nói riêng nhằm bảo vệ quyên và lợi ích chính đáng cho các chủ thé bị thiệt hai từ hành vi vi pham ngiĩa vụ của chủ thê khác. Ở các nước khác nhau thì vân đề trách nhiệm BTTH do làm ONMT được quy đính khác nhau về hình thức béi thường và cách XĐTH. Tuy nhiên, tat cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất là “Chủ thể gây thiệt hai phải béi thường”.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hién hành thi trách nhiệm BTTH được BLDS 2015 quy định tạt Điều 584, Điều 585 về trách nhiệm BTTH nói chung và Mục 3 Chương XX về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phan nay đều không nêu rõ khái mệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bôi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hen hưởng bôi thường. Trách nhiệm BTTH là một dang trách nhiệm dân sự, đây là một dang chế tai dân sự thường được áp dung cho chủ thê có hành vi gây thiét hai cho chủ thê khác. Ché đính trách nhiém BTTH được thiết lập dé nham nội sinh hóa các chi phí x4 hội đảm bảo nguyên tắc công bang trong xã hội, theo đó, chủ thé gây thiệt hại thì phải bồi thường Chế định trách nhiém BTTH co hai tác dung cơ bản là tác đụng “khôi phục thiét hại” va tác dung “rén đe, phòng, ngừa”. V ê tác dụng khôi phục thiệt hại, ché định trách nhiém BTTH hướng tới việc xác đính xem khi đã có thiệt hai từ hành vi lam ONMT gây ra, thì ai phải đứng ra gánh chiu hậu quả đó.
Vé tác dụng răn de, phòng ngừa, chế đính trách nhiệm BTTH hàm chứa một thông điệp rõ rang trong xã hội rằng: xã hôi không khuyên khích những hành vi lam ONMT gây ra, không mong muốn có những hành vị nhu vay. Cũng cân lưu ý thêm rằng, “trách nhiém BTTH” chỉ là một trong những biện pháp chế tai dân sự, ma chủ thé bị hại có quyền yêu câu cơ quan có 16 thấm quyền áp đụng đối với chủ thé vi pham. Những chế tai dân sự khác có thé gồm: buộc chấm đứt hành vĩ vị phạm hoặc buộc thực hiện hành vị nhật định. Như vậy, có thê liệu trách niêm BTTH là một loai trách nhiệm dan sự ma theo đó thi khi một người vi pham ngifa vụ pháp ly của minh gây tồn hai cho người khác phải bồi thường những tôn that ma minh gây ra.
Căn cứ vào nguôn géc phát sinh, trách nhiém BTTH được phân thành trách nhiệm bôi thường thiệt hai theo hợp đông và trách nhiém bôi thường thiệt hai ngoài hợp đông. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đông được hiểu là một loại trách nhiệm dan sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đông xâm phạm dén quyên và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bôi thường thiệt hại do minh gây ra Hiện nay, pháp luật Viét Nam quy định chủ yêu vệ trách nhiệm BTTH ngoài hợp đông đối với hành vi xâm phạm đến tính mang, sức khoẻ, danh dự, nhén phẩm, uy tín, tai sản của các cá nhân và tổ chức khác. Trách nhiệm BTTH do làm ONMT có thể được tiếp cân từ nhiều góc đô khác nhau: là một nhóm quan hệ pháp hệ pháp luật dan sự, là một bộ phận của chế định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đông và là hậu quả của hành vi lam ONMT Ở Việt Nam, trách nhiém BTTH do làm ONMT gây ra được coi là một dang trách nhiệm. bôi thường ngoài hợp đông, Theo đó, cũng gidng như các loại trách nhiệm pháp ly khác, trách nhiệm BTTH do làm ONMT là một biện pháp cưỡng chế được áp dung đối với chủ thê thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường, gây ÔNMT dẫn dén sự suy giảm chức năng tính hữu ích của môi trường, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tải sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức do sự suy giảm chức nang tính hữu ích của môi trường thi phải trả giá về hành vi của minh qua việc khôi phuc, đền bù, bù đắp những tổn thất và khác phuc những hâu quả do hành wi vi pham pháp luật gây ra.
Với phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái tiệm. về “trách nhiém BTTH do ONMT” như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hai do làm 6 nhiễm môi trường là một loại trách nhiém dan sự ngoài hợp đồng: theo đó, chit thé (tô chức, cá nhân hoặc chủ thé khác) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật làm suy giảm chức năng tính hữn ích của môi trường.