Chương I: Một số van dé lý luận về hop dong thé chấp và quy định của pháp luật về hợp đồng thế chấp nhà ở. Chương II: Thực trạng thé chấp nhà ở tại ngân hàng thương mại cổ phan việt nam thịnh vượng (VPBank). Chương III: Một số kiến nghị về hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng thé chấp nhà ở. CHUONG I: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG THE CHAP VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VE HOP DONG THE CHAP NHA O I.
MOT SO LY LUAN VE HOP DONG THE CHAP TAI SAN 1. Khái niệm thế chấp tài sản Thế chấp là một từ có nguồn gốc Hán Việt. Về phương diện ngữ nghĩa, thé chap tài san là việc một bên dùng tài san dé thay thé cho mét nghia vu trước đó.Theo từ dién Tiếng Việt: Thế chấp là dùng vật bao đảm thay thé cho số tiền vay nếu không có kha năng trả đúng hạn. Theo Từ điển luật học do Viện khoa học pháp lý (Bộ tư pháp) biện soạn: Thế chấp là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản, theo đó, bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyên.
Tài sản được thé chấp là các bất động sản như nhà ở, vườn cây lâu năm, công trình xây dựng khác. Có thé thế chấp một phan hoặc toàn bộ bất động sản dé bảo đảm một hoặc nhiều nghĩa vu, tùy theo gia tri của bat động sản cũng như tùy theo sự thỏa thuận của các bên. Hoa lợi phát sinh từ bất động sản, các vật phụ của bất động sản chỉ trở thành đối tượng của thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Thông thường, tài sản vẫn thế chấp vẫn do bên thế chấp giữ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho bên hận thế chấp hoặc người thứ ba giữ.
Hợp đồng thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của tô chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng Công Chứng) hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thâm quyên, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Chế định thé chấp tài sản được Bộ luật dân sự năm 1995 và tiếp tục được quy định tại các Điều từ Điều 342 đến Điều 357 Bộ luật dân sự năm 20052. 7 Trang 704, Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý Viện Tư Pháp, NXB Tư pháp — NXB từ điển bách khoa Thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phổ biến hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Theo bộ luật dân sự năm 2015 thì: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thé chấp), dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho biên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
Đặc điểm thế chấp tài sản Thế chấp tài sản có những đặc điểm khiến biện pháp thế chấp tài sản được sử dụng rộng rãi trong quan hệ dân sự như sau: Thứ nhất, tài sản thê chấp phải thuộc sở hữu của bên thế chấp. Có thể thấy rõ thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mang tính đối vật. Theo đó, bên thế chấp bắt buộc phải có tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình dé bảo dam cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ; trên cơ sở những thỏa thuận và quyền của bên thé chấp đối với tài sản của mình, bên nhận thế chấp có thê trực tiếp xử lý tài sản đó. Đây là lợi thế của thế chấp tài sản so với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác, cũng là lý do mà thế chấp tài sản trở thành biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phổ biến trong xã hội hiện nay.
Đặc biệt hơn nữa, quyền năng của bên nhân thế chấp đối với tài sản thế chấp trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng thế chấp có vị trí ưu tiên hơn so với các chủ thể khác trong các quan hệ có đối tượng là tài sản thế chấp, ví dụ: Quyền ưu tiên thanh toán trước, Quyền nhận tài sản can trừ nợ.khi tài sản bị xử lý dé thay thé cho nghĩa vu được bảo đảm. Thứ hai, bên thé chap không chuyên giao tài sản cho bên nhận thé chap. Trong quan hệ thé chấp, tài sản là đối tượng của thé chấp không chuyên giao cho bên nhận thế chấp mà vẫn do bên thế chấp bảo quản, sử dụng. Trên thực tế, bên thế chấp sẽ áp dụng việc chuyền giao các loại giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản cho bên nhận thế chấp để ràng buộc trách nhiệm.
Vi dụ: anh A vay Ngân hàng B 500tr đồng dé mua xe 6 tô, tài sản thế chấp chính là chiếc xe anh mua. Anh A sẽ giao cho Ngân hàng B giấy đăng ký xe mà không phải là giao chiếc xe cho Ngân hàng. Những giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý mà bên thế chấp phải giao cho bên nhận thé chấp có thé là giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản đó ( ví dụ 6 tô, tàu biển, tàu bay.), giấy chứng nhận quyền sử dung dat, hay các giấy tờ khác như Hợp đồng mua bán hàng hóa kèm hóa đơn, Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai kèm theo các giấy tờ chứng minh dự án đã được phê duyệt. Đặc biệt, tất cả các giấy tờ được chuyền giao phải mang tính duy nhất (đối với giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất) hoặc ban gốc trong trường hợp đối với tài sản hình thành trong tương lai.
Thứ ba, một tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ (đối với nhiều chủ thể có quyền khác nhau) chỉ có thể áp dụng biện pháp bảo đảm là thế chấp tài sản. Chỉ có biện pháp thế chấp tài sản mới phù hợp cho một tài sản bảo đảm để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ khác nhau. Vì đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là thế chấp tài sản bảo đảm thì bên nhận bảo đảm không trực tiếp nhận, giữ, quản lý hay sử dụng tài sản thế chấp. Như vậy, thông qua biện pháp thế chấp tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên có quyền là như nhau và đều được bảo đảm bằng giá trị của tài sản thế chấp.
Việc xác định thứ tự thanh toán sẽ phụ thuộc vào thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Còn đối với các biện pháp khác như cầm có, không thé có trường hợp có nhiều hơn một bên có quyền đối với tài sản bởi lẽ không thể có hai hay nhiều bên có quyền không liên quan tới nhau cùng cầm giữ tài sản. Ví dụ: Anh A thế chấp một căn nhà giá trị 3 tỷ tại ngân hàng B dé vay 500 triệu đồng, sau đó tiếp tục thế chấp tại ngân hàng C dé vay 300 triệu đồng và cuối cùng cầm cố cho Công ty tài chính D để vay 200 triệu đồng. Như vậy, tổng nghĩa vụ đối với các chủ thế khác nhau vẫn nhỏ hon giá trị của tài sản bảo đảm.
Tức là các bên có quyền vẫn có thê dam bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp anh A không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Đối tượng của thế chấp tài sản Đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đi sâu và hoàn thiện về nguồn gốc và ban chất của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thế chap tài sản. Những nghiên cứu này đã chỉ rõ thế chấp tài sản chỉ phát sinh khi có sự ton tai của một nghĩa vụ đã có săn, bản chất của thế chấp tài sản là nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ có san đó. Đối tượng của thế chấp tài sản trong quan hệ thế chấp là tài sản đã được xác định rõ.
Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tuy nhiên, không phải bat cứ tài sản nào cũng có thé trở thành đối tượng của thé chấp tài sản. Trong trường hợp thé chấp toàn bộ bat động sản, động san có vật phụ thi vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp (trừ trường hợp có thỏa thuận khác)°. Như vậy, đối tượng của hợp đồng thế chấp có thê là động sản, có thé là bất động sản mà có vật phụ, thì vật phụ của các đối tượng thế chấp này cũng thuộc về tài sản thế chấp.
Quy định này nhằm bảo vệ quyên, lợi ích của bên nhận thế chấp, tranh sự lạm dụng trong việc xác định vật chính, vật phụ liên quan đến đối tượng thé chấp. Các bên có thé thoả thuận thé chấp một phần bat động sản, động san có vật phụ, thi vật phụ vật phụ gan với tai san đó thuộc tai sản thé chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Đặc biệt, thé chấp quyền sử dung đất mà tài sản gan liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp (trừ thoả thuận khác). Đối với tài sản thế chấp mà bên thế chấp đã 3 Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015 tham gia bảo hiểm tài sản này, bên nhận thế chấp có nghĩa vụ thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm biết về thực trạng tài sản đang là đối tượng của hợp đồng thế chấp.
Khi có sự kiện bảo hiểm, thì bên nhận thế chấp tài sản có bảo hiểm được nhận khoản tiền bảo hiểm. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng dé thé chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp. Như vậy, tài sản là đối tượng của thế chấp có thể là bất động sản hoặc động sản. Mặt khác, quy định tại Điều 318 đã cơ bản tháo gỡ rất nhiều tranh chấp liên quan đến tài sản là đối tượng thế chấp đối với những loại tài sản có vật phụ gan liền với tài san thé chấp là vật chính.
Trước bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể là tại bộ luật dân sự năm 1995 thì hợp đồng thế chấp tài sản luôn được hiểu là thế chấp bất động sản.