Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Cao Nguyễn Bảo Liên được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sự phát triển của nền kinh tế thị trường mang lại sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã hàng hóa cho người tiêu dùng, nhưng đồng thời gia tăng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và gian dối thương mại. Tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng diễn biến phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng. Bối cảnh này càng trở nên cấp bách sau giai đoạn dịch bệnh Covid-19 bùng phát (cuối năm 2019 - 2020), khi chuỗi cung ứng hàng hóa đứt gãy, dẫn đến hiện tượng đầu cơ, tích trữ và phát tán sản phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn.

Mặc dù hệ thống pháp luật đã từng bước ghi nhận cơ chế bảo vệ người tiêu dùng từ Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 đến Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, việc thực thi chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Sự thiếu tương thích giữa các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) khiến quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng gặp nhiều rào cản.

Khóa luận xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định rõ về mặt lý luận các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng; làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan (nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán hàng và người tiêu dùng); đánh giá mức độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của pháp luật hiện hành.
  2. Nêu bật các bất cập tồn đọng từ thực tiễn áp dụng; phân tích nguyên nhân và đánh giá việc vận dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi giải quyết bồi thường cho người tiêu dùng.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp khắc phục thực trạng và kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện hành lang pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng chế định bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các văn bản pháp luật dân sự và chuyên ngành của Việt Nam (trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 sửa đổi năm 2018) cùng các bản án, vụ việc điển hình phát sinh trong thực tế xét xử tại Việt Nam tính đến tháng 7 năm 2022.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu pháp lý

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ bên yếu thế trong giao dịch dân sự.

Khung pháp lý nền tảng được tác giả khai thác bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 351, 432, 584, 585, 608) quy định về trách nhiệm dân sự, chất lượng tài sản mua bán, căn cứ phát sinh và nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (các điều 3, 13, 23, 42) quy định định nghĩa người tiêu dùng, trách nhiệm của bên thứ ba trong cung cấp thông tin, trách nhiệm bồi thường do hàng hóa có khuyết tật và nghĩa vụ chứng minh tại Tòa án.
  • Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, trọng tâm là Điều 61 về điều kiện bồi thường thiệt hại).
  • Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi năm 2018); Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và Bộ luật Dân sự các thời kỳ (1995, 2005).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng hai phương pháp chủ đạo:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phân tích mối quan hệ giữa hành vi vi phạm chuẩn mực an toàn sản phẩm và thiệt hại thực tế của người tiêu dùng, từ đó khái quát hóa thành các kết luận khoa học pháp lý.
  • Phương pháp đánh giá và luật học so sánh: Đánh giá tính hợp lý, khả thi và hiệu quả của các quy phạm khi đi vào đời sống tư pháp; đồng thời đối chiếu quy định của Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và pháp luật các quốc gia/vùng lãnh thổ như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Đài Loan và Chỉ thị của Cộng đồng Châu Âu (ECD).

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật thực định; giáo trình chuyên khảo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; công trình nghiên cứu của các chuyên gia pháp lý (GS.TS. Đỗ Văn Đại, PGS.TS. Phùng Trung Tập); số liệu báo cáo từ Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam năm 2021 của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công thương; cùng các bản án thực tế được công khai bởi Tòa án nhân dân các cấp (Hà Nội, Bến Tre, Hải Dương, Hòa Vang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng như một nhánh đặc thù của chế định trách nhiệm dân sự. Tác giả phân tích sự giao thoa và khác biệt giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015) và trách nhiệm ngoài hợp đồng (Chương XX Bộ luật Dân sự năm 2015), nhấn mạnh rằng việc bồi thường ngoài hợp đồng nhằm mục đích bù đắp tổn thất và chấm dứt quan hệ nghĩa vụ, thay vì duy trì nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ba đặc điểm cốt lõi:

  1. Phát sinh trực tiếp từ hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp mà không phụ thuộc vào thỏa thuận hợp đồng trước đó.
  2. Yếu tố lỗi không còn là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường theo Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Phạm vi bồi thường bao gồm cả tổn thất vật chất (toàn bộ và kịp thời) lẫn tổn thất về tinh thần (viện dẫn Điều 709, 710 Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896 và Bản án số 03/2022/DS-ST ngày 20/01/2022 của TAND huyện Hòa Vang chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần bằng 70 lần mức lương cơ sở).

Để xác định tư cách chủ thể được bảo vệ, tác giả tổng hợp và so sánh định nghĩa "người tiêu dùng" giữa pháp luật Việt Nam và một số quốc gia, vùng lãnh thổ:

Quốc gia / Vùng lãnh thổ / Văn bản Tiêu chí xác định người tiêu dùng Phạm vi chủ thể Mục đích sử dụng
Việt Nam (Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010) Người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ Cá nhân, gia đình, tổ chức Tiêu dùng, sinh hoạt
Thái Lan (Điều 3 Luật BVNTD 1979) Người mua, sử dụng dịch vụ, người được chào hàng/đề nghị mua Cá nhân, tổ chức Tiêu dùng
Malaysia (Khoản 1 Điều 3 Luật BVNTD 1999) Người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ Cá nhân, gia đình Tiêu dùng cá nhân; loại trừ mục đích thương mại, sản xuất lại
Ấn Độ (Khoản 7 Điều 2 Luật BVNTD 2019) Người mua/sử dụng hàng hóa có trả tiền, trả chậm, offline hoặc online Cá nhân Tiêu dùng; loại trừ mục đích thương mại (trừ tự kinh doanh kiếm sống)
Chỉ thị Châu Âu (ECD) Bất kỳ cá nhân nào mua hàng theo hợp đồng Chỉ cá nhân (tự nhiên nhân) Không liên quan thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp
Anh (Khoản 3 Điều 2 Luật Quyền lợi NTD 2015) Cá nhân hoạt động ngoài mục đích kinh doanh Chỉ cá nhân Mục đích ngoài thương mại, thủ công hoặc nghề nghiệp
Quebec - Canada Người sử dụng hàng hóa, dịch vụ Cá nhân (tự nhiên nhân) Không phải thương nhân sử dụng cho mục đích kinh doanh

Từ so sánh trên, tác giả nhận định định nghĩa của Việt Nam bao quát cả tổ chức nhưng lại chưa tách bạch rõ giữa người mua và người trực tiếp sử dụng hàng hóa.

Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, khóa luận khẳng định chế định này áp dụng nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt (không phụ thuộc vào lỗi của nhà sản xuất, kinh doanh). Ba căn cứ phát sinh gồm:

  1. Có thiệt hại thực tế xảy ra: Thiệt hại về vật chất (tính mạng, sức khỏe, tài sản) và tổn thất tinh thần.
  2. Có hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa không bảo đảm chất lượng/có khuyết tật: Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng nhất về thuật ngữ khi Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 dùng thuật ngữ "hàng hóa có khuyết tật" (hẹp hơn, nhấn mạnh yếu tố mất an toàn), trong khi Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng cụm từ "hàng hóa không bảo đảm chất lượng" dựa trên tiêu chuẩn công bố và quy chuẩn kỹ thuật (theo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006).
  3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại: Người tiêu dùng phải chứng minh được thiệt hại xuất phát trực tiếp từ khiếm khuyết của sản phẩm.

Về chủ thể, bên chịu trách nhiệm là toàn bộ các mắt xích trong chuỗi cung ứng (người sản xuất, nhập khẩu, bán hàng theo Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Điều 1203 Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020), còn bên được bồi thường là bên yếu thế cần được pháp luật ưu tiên bảo vệ.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua việc phân tích các vụ án tranh chấp tiêu dùng tiêu biểu tại Tòa án và các vụ việc gây bức xúc xã hội:

Vụ việc / Bản án Tòa án / Cơ quan xử lý Nội dung tranh chấp Vấn đề pháp lý và bất cập thực tiễn bộc lộ
Bản án số 166/2015/DS-PT (12/8/2015) TAND tỉnh Bến Tre Ông Hoàng bị ngộ độc thực phẩm sau khi ăn bánh mì mua tại cơ sở Minh Tuyến. Tòa án hai cấp chỉ quy trách nhiệm cho chủ cơ sở bán lẻ (bà Tuyến) mà bỏ ngỏ việc xác định tư cách và trách nhiệm của nhà sản xuất nguyên liệu làm bánh.
Bản án số 19/2019/DS-PT (13/5/2019) TAND tỉnh Hải Dương Ông Bùi Trọng Kh. kiện Công ty S. Electronic Vietnam vì tivi bị sọc màn hình, không được bảo hành. Tòa sơ thẩm nhầm lẫn khi buộc người tiêu dùng chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Tòa phúc thẩm sửa sai, xác định bên kinh doanh phải chứng minh, nhưng kết luận tivi hỏng do lỗi kỹ thuật chứ không phải hàng hóa có khuyết tật.
Vụ kiện chai bia Sabeco (2021) TAND có thẩm quyền Ông N.Du khởi kiện Sabeco đòi bồi thường 39,81 triệu đồng (sau tăng lên 1 triệu USD) do phát hiện 2 chai bia có mùi lạ, lượng nước chỉ có 1/2 và 1/4. Phiên tòa phải tạm ngừng do Tòa án không thể xác định chai bia bị lỗi có thực sự do Công ty Sabeco sản xuất hay không; bế tắc trong chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
Bản án số 42/2016/DS-PT (14/3/2016) TAND TP. Hà Nội Bà M. kiện Công ty Coca-Cola Việt Nam về 05 chai nước cam ép Splash 240ml có dị vật. Tòa án bác yêu cầu khởi kiện vì sản phẩm sử dụng vỏ chai thủy tinh tái sử dụng nhiều lần, nguyên đơn không thể chứng minh chai nước có dị vật là do Coca-Cola sản xuất.
Vụ kiện Apple Inc. (10/01/2018) TAND TP. Hồ Chí Minh Hai luật sư đại diện hơn 4.700 người tiêu dùng khởi kiện Apple Inc. và Công ty TNHH Apple Việt Nam về việc làm chậm iPhone. Tòa án từ chối thụ lý do hồ sơ không bổ sung đúng yêu cầu; bộc lộ khoảng trống pháp lý hoàn toàn về cơ chế khởi kiện tập thể do cá nhân khởi xướng.

Từ các bản án trên, tác giả rút ra ba nhóm bất cập lớn trong quy định và thực tiễn:

  1. Bất cập về xác định chủ thể chịu trách nhiệm: Rất khó quy trách nhiệm cho nhà sản xuất ban đầu trong chuỗi phân phối phức tạp. Đặc biệt, có sự gia tăng vai trò của bên thứ ba là người nổi tiếng, KOLs quảng cáo sai sự thật (như vụ việc viên sủi Shioka trị u xơ bị Cục An toàn thực phẩm cảnh báo, hay vụ trà thảo mộc tăng cân C. gây mệt mỏi tại Hà Nội). Theo Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam năm 2021, có tới 42% người tiêu dùng mua sắm trực tuyến phản ánh chất lượng hàng hóa nhận được kém hơn nhiều so với quảng cáo. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 13 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 chỉ quy định trách nhiệm liên đới, trong khi Điểm c Khoản 2 Điều 12 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định trách nhiệm bồi thường trực tiếp của bên quảng cáo, dẫn đến xung đột khi áp dụng.
  2. Sự thiếu đồng bộ về quy định yếu tố lỗi: Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 584, Điều 608) và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (Điều 23) quy định bồi thường thiệt hại không phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Ngược lại, Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi năm 2018) vẫn đòi hỏi phải có lỗi của người sản xuất, nhập khẩu hoặc bán hàng mới phát sinh trách nhiệm bồi thường.
  3. Rào cản về nghĩa vụ chứng minh và thủ tục tố tụng: Dù Khoản 1 Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã đảo nghĩa vụ chứng minh lỗi sang cho tổ chức, cá nhân kinh doanh, nhưng người tiêu dùng vẫn phải tự chứng minh thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả (theo Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015). Người tiêu dùng gần như không có khả năng tài chính và kỹ thuật để giám định sản phẩm, nhất là với hàng hóa có bao bì tái sử dụng hoặc quy trình sản xuất khép kín. Pháp luật cũng thiếu vắng cơ chế kiện tập thể, kiện nhóm hoặc kiện thử nghiệm.

Khóa luận đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:

  • Sửa đổi, chuẩn hóa khái niệm "hàng hóa có khuyết tật" trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tương thích với khái niệm "hàng hóa không bảo đảm chất lượng" của Bộ luật Dân sự.
  • Bãi bỏ quy định yêu cầu yếu tố lỗi tại Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 để thống nhất áp dụng nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt.
  • Quy định trách nhiệm bồi thường độc lập và chế tài xử lý nghiêm khắc đối với cá nhân, tổ chức quảng cáo gian dối khi không xác định được nhà sản xuất thực tế.
  • Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự: thừa nhận hình thức kiện tập thể do cá nhân đề xướng, thiết lập cơ chế tạm ứng chi phí giám định từ quỹ bảo vệ người tiêu dùng, và đơn giản hóa thủ tục rút gọn tại Tòa án.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích toàn diện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, chỉ rõ tính chất dung hòa giữa trách nhiệm dân sự nói chung và tính chất bảo vệ bên yếu thế đặc thù của luật tiêu dùng.

Các đóng góp cụ thể của công trình gồm:

  • Chỉ ra sự xung đột pháp lý trực tiếp giữa ba đạo luật cốt lõi: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi năm 2018) xoay quanh điều kiện lỗi và khái niệm hàng hóa khuyết tật.
  • Đánh giá thực trạng tư pháp dựa trên 5 vụ án và vụ việc có thật, vạch rõ sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xác định nghĩa vụ chứng minh lỗi (như trong vụ S. Electronic), cũng như sự bế tắc của người tiêu dùng khi khởi kiện đối với sản phẩm có bao bì tái chế (vụ Coca-Cola) hay thiếu cơ sở pháp lý cho vụ kiện tập thể có hơn 4.70