Chương 1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1.
Khái quát trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong đời sống dân sự, các quan hệ dân sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt kèm theo những hệ quả pháp lý khác nhau nên thiệt hại của một trong các chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự là điều khó tránh khỏi. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại phát sinh trong quan hệ dân sự, pháp luật thực định đã ghi nhận sự tồn tại của một hệ thống quy phạm pháp luật - trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm dân sự là một chế định trách nhiệm pháp lý được quy định trong pháp luật dân sự.
Hiện nay dưới góc độ khoa học pháp lý, trách nhiệm pháp lý được hiểu theo hai nghĩa khác nhau đó là: theo nghĩa tích cực, trách nhiệm pháp lý được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ, thái độ tích cực của cá nhân và vai trò của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện pháp luật. Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần của chủ thể vi phạm pháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền đã áp dụng biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt đối với chủ thể đó, mà biện pháp cưỡng chế ấy được quy định trong phần chế tài của quy phạm pháp luật 1. Từ đó, có thể hiểu, trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi đối với cá nhân hoặc tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ dân sự, hoặc xâm hại lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của cá nhân, pháp nhân hoặc của các chủ thể khác 2. Liên quan đến trách nhiệm dân sự, có quan điểm cho rằng trách nhiệm dân sự là một căn cứ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của chủ thể xác định được, người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại 3.
Trách nhiệm 1 Nguyễn Trung Tín (2014), Trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 2 Trường Đại học Luật TP. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 3 Phùng Trung Tập (2017), Luật Dân sự Việt Nam (Bình giải và áp dung) – Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 9 bồi thường thiệt hại dưới góc độ khoa học pháp lý gồm hai loại là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cả hai loại đều được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh khi có sự vi phạm hợp đồng giữa các bên trong giao dịch dân sự 4 và chưa thực sự được quy định cụ thể, nằm rải rác trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được ghi nhận từ Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Chương XXI và Bộ luật Dân sự năm 2015 kế thừa và phát triển các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Chương XX.
Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hình thành giữa các chủ thể bất kỳ mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không xuất phát từ thực hiện hợp đồng 5. Hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại nêu trên có sự khác biệt cơ bản về hệ quả pháp lý, việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo nghĩa vụ ngoài hợp đồng thông thường sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ nhưng đối với nghĩa vụ hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại, ngược lại, không giải phóng người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế 6. Bởi lẽ mục tiêu của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là buộc người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm với hành vi trái pháp luật đã gây ra, khắc phục hậu quả từ hành vi đó, đồng thời nhằm bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại nên khi nghĩa vụ bồi thường được thực hiện xong thì quan hệ nghĩa vụ giữa các bên cũng chấm dứt. Chính sự khác biệt trên là một trong những căn cứ phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trong hợp đồng.
4 Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự số: 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015.: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. 5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Pháp luật về Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tái bản lần thứ 1, có sửa đổi và bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.
6 Bộ Tư pháp – Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1997), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 231, dẫn theo Đỗ Văn Đại (2018), Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Bản án và Bình luận án (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ tư), Tập 1, tr. 10 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bắt nguồn từ việc gây thiệt hại cho chủ thể trong quan hệ dân sự mà không xuất phát từ nghĩa vụ trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện xong thì đương nhiên quan hệ giữa các bên cũng chấm dứt, người gây thiệt hại được giải phóng nghĩa vụ đối với người bị thiệt hại. Thứ hai, yếu tố lỗi không còn là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, quy định này không đề cập đến yếu tố lỗi và khi xem xét các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật thực định không yêu cầu phải tồn tại lỗi của người có hành vi gây thiệt hại mới đủ yếu tố phát sinh trách nhiệm dân sự này. Về vấn đề này, tác giả sẽ phân tích rõ hơn ở các nội dung liên quan.
Thứ ba, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” 7, theo tinh thần trên, pháp luật dân sự đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với người gây thiệt hại phải bồi thường cả vật chất lẫn tinh thần cho người bị thiệt hại. Cụ thể, trường hợp thiệt hại không chỉ về vật chất (tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín) mà còn ảnh hưởng đến tinh thần của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại còn phải bồi thường khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896 cũng có quy định tương tự như vậy, về thiệt hại được bồi thường “Một người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại theo quy định của Điều 709 phải bồi thường kể cả thiệt hại phi vật chất, bất kể thiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hoặc tài sản của người khác.
Thực tiễn xét xử cũng đã ghi nhận khoản chi phí bồi thường tổn thất về tinh thần, “tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 7 Khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự số: 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015. 8 Điều 710 Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Đạo luật số 89) ngày 27 tháng 4 năm 1896 năm 1896. 11 của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại là ông Nguyễn Đ. Hoàng: Ông Hoàng là trụ cột trong gia đình, có mẹ già con thơ, cái chết của ông Hoàng là mất mát to lớn cho gia đình ông Hoàng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bằng 70 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là phù hợp” 9.
Khoản bồi thường tổn thất về tinh thần có vai trò không nhỏ trong việc bù đắp những mất mát phi vật chất cho người bị thiệt hại. Như vậy, dưới góc độ pháp lý dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định trách nhiệm pháp lý phát sinh do hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và chế định này buộc người gây thiệt hại phải có trách nhiệm khắc phục những tổn thất về vật chất lẫn tinh thần cho người bị thiệt hại. Khái niệm vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng Hơn 35 năm kể từ khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường, phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam hiện nay đã tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và một số “Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” trong đó nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) – EVFTA, đây là cơ hội cũng là thách thức lớn đối với một quốc gia đang phát triển khi phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường toàn cầu.