Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo tổng kết giai đoạn 2007-2012 của Bộ Tư pháp, công tác xã hội hóa hoạt động công chứng tại Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với số lượng công chứng viên được bổ nhiệm tăng từ 353 người lên 1.606 người, tương đương mức tăng trưởng hơn 355%. Trong số này, có 1.180 công chứng viên thực tế đang hành nghề tại 438 Phòng công chứng nhà nước và 742 Văn phòng công chứng tư nhân. Toàn ngành đã thực hiện hàng triệu giao dịch, thu về 2.577 tỷ đồng phí công chứng và đóng góp 977 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng kéo theo những rủi ro pháp lý nghiêm trọng do sai sót nghiệp vụ, gây tổn thất tài sản lớn cho các bên tham gia giao dịch.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra, đồng thời giải quyết triệt để những xung đột, chồng chéo giữa Luật Công chứng 2006, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và Luật Viên chức 2010. Mục tiêu cụ thể là xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng. Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống pháp luật thực định Việt Nam từ trước năm 2006 đến năm 2014, có so sánh đối chiếu với mô hình công chứng La tinh và Ăng-lô Xắc-xông. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ giảm tỷ lệ tranh chấp nghề nghiệp xuống dưới 5%, đồng thời thiết lập cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp đạt mức 100% cho các đương sự khi tham gia hợp đồng, giao dịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý hiện đại: Lý thuyết trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (Tort Law) và Lý thuyết ủy thác quyền lực công trong mô hình công chứng La tinh (Civil Law Notary). Mô hình nghiên cứu đánh giá trách nhiệm bồi thường dựa trên cấu trúc 4 thành tố pháp lý bắt buộc: hành vi trái pháp luật khi tác nghiệp, có thiệt hại thực tế xảy ra, mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi và thiệt hại, cùng với yếu tố lỗi của công chứng viên.

Hệ thống nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  • Khái niệm công chứng theo nghĩa chức nghiệp chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch;
  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của công chứng viên khi thực hiện nhiệm vụ;
  • Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp công lập và Văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình doanh nghiệp;
  • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp công chứng;
  • Nghĩa vụ bồi hoàn tài chính giữa người hành nghề và tổ chức quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt, kết hợp với các báo cáo chuyên đề của Bộ Tư pháp và các bản án thực tế trong giai đoạn 6 năm (từ 2007 đến 2013). Cỡ mẫu khảo cứu chuyên sâu bao gồm 120 hồ sơ vụ việc tranh chấp bồi thường công chứng điển hình và số liệu thống kê từ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những vụ việc phản ánh rõ nét sự khác biệt giữa mô hình công chứng công lập và ngoài công lập.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học, phương pháp lịch sử và phương pháp đàm thoại chuyên gia với các công chứng viên lâu năm được triển khai trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2013 đến đầu năm 2014. Việc lựa chọn phương pháp này giúp chỉ rõ bản chất các mâu thuẫn trong văn bản luật hiện hành, đảm bảo kết quả phân tích có tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn phát hiện sự mâu thuẫn lớn trong việc phân định chủ thể chịu trách nhiệm. Trong khi Điều 58 Luật Công chứng 2006 quy định công chứng viên phải tự chịu trách nhiệm bồi thường cá nhân, thì khoản 5 Điều 32 lại quy định tổ chức hành nghề công chứng phải đứng ra bồi thường cho người yêu cầu công chứng. Điều này dẫn đến hơn 60% trường hợp tranh chấp thực tế xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, khiến khách hàng gặp khó khăn khi yêu cầu bồi hoàn.

Thứ hai, tồn tại sự bất bình đẳng sâu sắc giữa 3 nhóm công chứng viên: công chứng viên là công chức (chiếm khoảng 15% tổng số nhân sự hành nghề), công chứng viên là viên chức (chiếm khoảng 22%), và công chứng viên làm việc tại văn phòng tư nhân (chiếm khoảng 63%). Nếu công chứng viên văn phòng tư nhân gây thiệt hại thì được xử lý theo hợp đồng bảo hiểm và tài sản doanh nghiệp, trong khi công chứng viên nhà nước lại phụ thuộc vào quy trình phân tán của Luật Viên chức 2010 hoặc Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009.

Thứ ba, tỷ lệ bao phủ và hiệu lực thực tế của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp còn rất thấp, ước tính chỉ khoảng 62% tổ chức hành nghề tư nhân duy trì hợp đồng bảo hiểm đầy đủ do thiếu quy định bắt buộc đối với Phòng công chứng công lập và thiếu mẫu hợp đồng bảo hiểm chuẩn hóa.

Thứ tư, pháp luật hiện hành hoàn toàn bỏ ngỏ cơ chế bồi thường tổn thất tinh thần trong các giao dịch nhân thân như công chứng di chúc hay văn bản chia di sản, dù đây là thiệt hại thực tế phát sinh khi công chứng viên làm sai quy trình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trên bắt nguồn từ tốc độ xã hội hóa diễn ra nhanh hơn sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Việc áp dụng đồng thời nhiều đạo luật có phạm vi điều chỉnh chồng chéo tạo ra xung đột pháp lý lớn. So sánh với kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, toàn bộ công chứng viên đều bắt buộc phải tham gia quỹ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chung do Hội đồng Công chứng tối cao quản lý, giúp giải quyết 100% bồi thường nhanh chóng mà không phân biệt hình thức tổ chức.

Dữ liệu phát triển công chứng viên qua từng năm có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường tăng trưởng lũy tiến: từ 55 người năm 2007, 117 người năm 2008, 166 người năm 2009, 297 người năm 2010, 325 người năm 2011 đến 293 người năm 2012. Bên cạnh đó, một bảng so sánh cơ chế trách nhiệm giữa Phòng công chứng và Văn phòng công chứng sẽ làm rõ sự chênh lệch về nguồn kinh phí bồi thường và thủ tục hoàn trả của công chứng viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Tư pháp phối hợp cùng Bộ Tài chính ban hành quy định bắt buộc 100% tổ chức hành nghề công chứng (bao gồm cả Phòng công chứng và Văn phòng công chứng) phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho toàn bộ công chứng viên đang hoạt động, hoàn thành trong thời hạn 12 tháng tới.

Thứ hai, chuẩn hóa và ban hành bản Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp mẫu áp dụng thống nhất trên toàn quốc trong vòng 6 tháng, nhằm loại bỏ các điều khoản loại trừ vô lý của các công ty bảo hiểm và bảo đảm quyền lợi tối đa cho người thụ hưởng.

Thứ ba, thiết lập cơ chế ủy thác cho Hiệp hội Công chứng đứng ra làm đầu mối đàm phán, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tập trung cho toàn bộ hội viên, mục tiêu giúp giảm từ 15% đến 20% chi phí mua bảo hiểm hàng năm cho các văn phòng công chứng.

Thứ tư, Quốc hội và các cơ quan tư pháp bổ sung các biện pháp bảo đảm tài chính thay thế như quy định mức ký quỹ bắt buộc từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng đối với các văn phòng công chứng mới thành lập, đồng thời bổ sung các chế tài dân sự như buộc xin lỗi, cải chính công khai khi xâm phạm quyền nhân thân của đương sự.

Thứ năm, Cục Bổ trợ Tư pháp xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thẩm định hồ sơ công chứng và ban hành quy chuẩn xác định lỗi nghiệp vụ cụ thể trước quý 4 năm tới, tạo căn cứ pháp lý minh bạch cho Tòa án khi giải quyết tranh chấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là công chứng viên và đội ngũ trợ lý pháp lý tại hơn 1.180 tổ chức hành nghề công chứng trên toàn quốc. Nhóm này có thể sử dụng tài liệu để nhận diện 100% các tình huống rủi ro nghiệp vụ, nắm vững quy trình xử lý hợp đồng bảo hiểm và phòng tránh các sai sót dẫn đến kiện tụng.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác sửa đổi Luật Công chứng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nhóm thứ ba là Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư tố tụng. Đây là tài liệu tham khảo giá trị giúp giải quyết nhanh chóng, chính xác hơn 80% các tranh chấp dân sự liên quan đến tính vô hiệu của văn bản công chứng và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự. Công trình mang lại nguồn dữ liệu chuẩn mực, hơn 15 văn bản pháp lý trích dẫn chuẩn xác cùng phương pháp tiếp cận đa chiều về trách nhiệm dân sự nghề nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Khi xảy ra thiệt hại do lỗi công chứng, tổ chức công chứng hay công chứng viên phải bồi thường trước?

Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm trực tiếp đứng ra bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người yêu cầu công chứng theo quy định tại khoản 5 Điều 32 Luật Công chứng 2006. Sau đó, công chứng viên có lỗi phải thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn lại cho tổ chức số tiền đã chi trả theo thỏa thuận nội bộ hoặc quy định pháp luật.

Công chứng viên tại Phòng công chứng và Văn phòng công chứng chịu trách nhiệm bồi thường khác nhau thế nào?

Công chứng viên tại Văn phòng công chứng chịu trách nhiệm theo cơ chế doanh nghiệp và hợp đồng bảo hiểm thương mại. Ngược lại, công chứng viên tại Phòng công chứng là viên chức chịu sự điều chỉnh của Luật Viên chức 2010 và Nghị định 27/2012/NĐ-CP, hoặc Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 nếu giữ chức danh quản lý công quyền.

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp công chứng có chi trả cho mọi trường hợp sai sót không?

Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện bồi thường đối với các rủi ro phát sinh từ lỗi vô ý, sơ suất hoặc bất cẩn trong quá trình hành nghề của công chứng viên theo phạm vi hợp đồng. Các trường hợp công chứng viên cố ý làm trái, gian lận hoặc câu kết lừa đảo sẽ bị từ chối bồi thường và bị xử lý hình sự.

Khách hàng có được yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần do công chứng sai không?

Về mặt lý luận và quy định tại Điều 608, 611 Bộ luật Dân sự 2005, khi hành vi công chứng trái luật làm tổn hại danh dự, uy tín hoặc gây suy sụp tâm lý nghiêm trọng trong các giao dịch thừa kế, đương sự hoàn toàn có quyền yêu cầu bù đắp một khoản tiền tổn thất tinh thần hợp lý.

Mức và thời hạn hoàn trả của công chứng viên là viên chức cho tổ chức được quy định ra sao?

Theo quy định pháp luật, viên chức gây thiệt hại phải hoàn trả một lần trong vòng 30 ngày kể từ khi có quyết định, hoặc được khấu trừ dần vào thu nhập hàng tháng với mức khấu trừ từ 10% đến tối đa 30% tổng tiền lương và phụ cấp cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ.

Kết luận

  • Luận văn xác lập cơ sở lý luận vững chắc khẳng định trách nhiệm bồi thường của công chứng viên mang bản chất trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng có tính chất đặc thù nghề nghiệp.
  • Công trình đã chỉ rõ 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm và vạch ra sự chồng chéo, xung đột giữa Luật Công chứng 2006 với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Viên chức.
  • Nghiên cứu phản ánh thực trạng phát triển vượt bậc từ 353 lên 1.606 công chứng viên nhưng cơ chế bảo đảm tài chính bồi thường vẫn chưa đồng bộ và thiếu công bằng giữa các mô hình.
  • Đề tài đóng góp 5 nhóm giải pháp chiến lược gồm: bảo hiểm bắt buộc toàn diện, hợp đồng bảo hiểm mẫu, quỹ mua bảo hiểm tập trung qua Hiệp hội, và quy định mức ký quỹ dự phòng.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị định hướng lộ trình hoàn thiện khung pháp lý về công chứng tại Việt Nam trong giai đoạn cải cách tư pháp tiếp theo.

Các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các luận điểm và giải pháp trong công trình để chuẩn hóa quy trình tác nghiệp và xây dựng chính sách quản trị rủi ro hiệu quả.