Nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ cytidin tại Trường Đại học Dược Hà Nội

Nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ cytidin trong khóa luận tốt nghiệp dược sĩ của Trương Thị Kim Lương. Khám phá quy trình và ứng dụng.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

2022

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. TỔNG QUAN VỀ MOLNUPIRAVIR

1.1. Đặc điểm chung

1.2. Tính chất dược động học

1.3. Tính chất dược lực học

1.4. Liều dùng và cách dùng

1.5. Tác dụng không mong muốn

2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP MOLNUPIRAVIR

2.1. Quy trình tổng hợp tổng hợp molnupiravir của Đại học Emory

2.2. Quy trình tổng hợp tổng hợp molnupiravir của R. Dey và cộng sự

2.3. Quy trình tổng hợp tổng hợp molnupiravir của N. Vasudevan và cộng sự

2.4. Quy trình tổng hợp molnupiravir của G. Ahlqvist và cộng sự

2.5. Quy trình tổng hợp molnupiravir của D. Snead và cộng sự

2.6. Quy trình tổng hợp molnupiravir V. Gopalsamuthiram và cộng sự

2.7. Quy trình tổng hợp molnupiravir của T. Hu và cộng sự

2.8. Quy trình tổng hợp molnupiravir của T. Benkovics và cộng sự

3. PHÂN TÍCH ĐỊNH HƯỚNG TỔNG HỢP MOLNUPIRAVIR TỪ CYTIDIN

4. NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG

4.1. Nguyên liệu và thiết bị

4.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

4.2.1. Tổng hợp hóa học

4.2.2. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến một số phản ứng quan trọng. Kiểm tra độ tinh khiết và khẳng định cấu trúc của các hợp chất trung gian và sản phẩm cuối cùng tổng hợp được.

4.2.3. Phương pháp nghiên cứu

4.2.3.1. Tổng hợp hóa học
4.2.3.2. Kiểm tra độ tinh khiết của các chất tổng hợp được
4.2.3.3. Xác định cấu trúc của các chất tổng hợp được

5. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

5.1. Kết quả thực nghiệm

5.1.1. Tổng hợp muối 4-amino-1-((3aR,4R,6R,6aR)-6-(hydroxymethyl)-2,2-dimethyltetrahydrofuro[3,4-d][1,3]dioxol-4-yl)pyrimidin-2(1H)-one (1) sulfat (2)

5.1.2. Tổng hợp dẫn chất ((3aR,4R,6R,6aR)-6-(4-amino-2-oxopyrimidin-1(2H)-yl)-2,2-dimethyltetrahydrofuro[3,4-d][1,3]dioxol-4-yl)methyl isobutyrat (3)

5.1.3. Xác định cấu trúc các chất tổng hợp được bằng phương pháp phổ

5.1.3.1. Kết quả phân tích phổ hồng ngoại (IR)
5.1.3.2. Kết quả phân tích phổ khối lượng (MS)
5.1.3.3. Kết quả phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)

5.1.4. Bàn luận về các phản ứng tổng hợp hoá học

5.1.5. Bàn luận về kết quả phân tích phổ và cấu trúc các chất

KẾT LUẬN VỀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về molnupiravir và cytidin trong nghiên cứu

Molnupiravir là một loại thuốc kháng virus được phát triển để điều trị COVID-19. Nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ cytidin là một bước tiến quan trọng trong việc tìm kiếm các phương pháp sản xuất thuốc hiệu quả và tiết kiệm. Cytidin, một nucleosid tự nhiên, có thể được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào để tổng hợp molnupiravir với hiệu suất cao hơn so với uridin. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện quy trình sản xuất mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các loại thuốc kháng virus khác trong tương lai.

1.1. Đặc điểm hóa học của molnupiravir

Molnupiravir có công thức phân tử là C13H19N3O7, với cấu trúc hóa học phức tạp. Nó có tính chất dược động học đặc biệt, cho phép thuốc dễ dàng hấp thu và phân bố trong cơ thể. Đặc biệt, molnupiravir có khả năng kháng lại virus SARS-CoV-2, nguyên nhân gây ra đại dịch COVID-19.

1.2. Tại sao chọn cytidin làm nguyên liệu tổng hợp

Cytidin được lựa chọn vì giá thành thấp và tính khả thi trong quy trình tổng hợp. Việc sử dụng cytidin không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn tăng hiệu suất tổng hợp molnupiravir, từ đó tạo ra nguồn cung thuốc dồi dào hơn cho thị trường.

II. Thách thức trong nghiên cứu tổng hợp molnupiravir

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tổng hợp molnupiravir, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc tối ưu hóa quy trình. Các vấn đề như hiệu suất thấp, thời gian phản ứng dài và sự xuất hiện của các tạp chất trong sản phẩm cuối cùng là những yếu tố cần được giải quyết. Việc tìm ra phương pháp tổng hợp hiệu quả và an toàn là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu này.

2.1. Hiệu suất tổng hợp thấp

Nhiều quy trình tổng hợp molnupiravir hiện tại vẫn chưa đạt được hiệu suất tối ưu. Việc cải thiện hiệu suất tổng hợp là cần thiết để giảm chi phí và thời gian sản xuất.

2.2. Sự xuất hiện của tạp chất

Trong quá trình tổng hợp, sự hình thành tạp chất có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cuối cùng. Cần có các phương pháp kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt để đảm bảo độ tinh khiết của molnupiravir.

III. Phương pháp tổng hợp molnupiravir từ cytidin

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều phương pháp tổng hợp molnupiravir từ cytidin. Các quy trình này không chỉ đa dạng mà còn có thể được tối ưu hóa để đạt được hiệu suất cao hơn. Việc áp dụng các công nghệ mới trong tổng hợp hóa học có thể giúp cải thiện quy trình này.

3.1. Quy trình tổng hợp một bước

Quy trình tổng hợp một bước từ cytidin đã được thực hiện thành công, cho phép giảm thiểu số bước cần thiết và tăng hiệu suất tổng hợp. Phương pháp này hứa hẹn sẽ là một giải pháp hiệu quả cho việc sản xuất molnupiravir.

3.2. Các nghiên cứu điển hình

Nhiều nghiên cứu từ các nhóm nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra các quy trình tổng hợp khác nhau, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách tối ưu hóa quy trình sản xuất molnupiravir từ cytidin.

IV. Ứng dụng thực tiễn của molnupiravir trong điều trị COVID 19

Molnupiravir đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị COVID-19, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Việc sử dụng molnupiravir không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn giảm nguy cơ nhập viện và tử vong. Điều này đã mở ra một hướng đi mới trong việc điều trị các bệnh nhiễm virus.

4.1. Kết quả lâm sàng

Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng molnupiravir có thể làm giảm đáng kể nguy cơ nhập viện và tử vong ở bệnh nhân COVID-19. Điều này đã được xác nhận qua nhiều thử nghiệm khác nhau.

4.2. Tác dụng phụ và an toàn

Mặc dù molnupiravir có hiệu quả cao, nhưng cũng cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra. Việc theo dõi và đánh giá an toàn của thuốc là rất quan trọng trong quá trình điều trị.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tổng hợp molnupiravir

Nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ cytidin đã mở ra nhiều cơ hội mới trong việc phát triển thuốc kháng virus. Việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng cường khả năng tiếp cận thuốc cho bệnh nhân. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều tiến bộ trong lĩnh vực dược phẩm.

5.1. Hướng đi tiếp theo trong nghiên cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện quy trình tổng hợp và khám phá thêm các ứng dụng của molnupiravir trong điều trị các bệnh nhiễm virus khác.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu dược phẩm

Nghiên cứu dược phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các phương pháp điều trị mới, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và ứng phó với các đại dịch trong tương lai.

14/08/2025
Trƣơng thị kim lƣơng nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ cytidin khóa luận tốt nghiệp dƣợc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch COVID-19 toàn cầu đang có những tác động tàn khốc đến sức khỏe con ngƣời và sự phát triển kinh tế. Đến nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhận đƣợc báo cáo về hơn 535 triệu trƣờng hợp đƣợc xác nhận nhiễm COVID-19, với hơn 6 triệu trƣờng hợp tử vong. Tổng số hơn 11 triệu liều vắc-xin đã đƣợc tiêm vào ngày 17 tháng 6 năm 2022 [19]. Bất chấp sự sẵn có của vắc-xin, nhu cầu cần một thuốc kháng virus có hoạt tính mạnh chống lại SARS-CoV2- nguyên nhân gây ra đại dịch COVID-19, vẫn là một vấn đề cấp bách vì hàng triệu ngƣời bị suy giảm miễn dịch và có thể không có thiết bị bảo vệ đầy đủ để đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm chủng [13].

Vào ngày 01 tháng 10 năm 2021, có thông báo rằng molnupiravir, một loại thuốc do Merck và Ridgeback Biotherapeutics hợp tác phát triển, có thể làm giảm đáng kể nguy cơ nhập viện hoặc tử vong ở những bệnh nhân bị COVID-19 mức độ nhẹ hoặc trung bình đã thu hút sự chú ý rộng rãi [21]. Theo những ngƣời tham gia với dữ liệu giải trình tự virus có sẵn (khoảng 40% số ngƣời tham gia), molnupiravir cho thấy hiệu quả nhất quán giữa các biến thể virus Gamma, Delta và Mu [21], [15]. Vào ngày 4 tháng 11 năm 2021, molnupiravir đã đƣợc Cơ quan Quản lý Thuốc và Sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe Vƣơng quốc Anh (MHRA) phê duyệt để điều trị bệnh nhân COVID-19 từ nhẹ đến trung bình, trở thành loại thuốc kháng COVID-19 đƣờng uống đầu tiên trên thế giới. Vào ngày 23 tháng 12 năm 2021, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dƣợc phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã ban hành Giấy phép Sử dụng Khẩn cấp (EUA) cho molnupiravir để điều trị cho ngƣời lớn có nguy cơ cao với COVID-19 từ nhẹ đến trung bình [15].

Ở Việt Nam, Bộ Y tế khuyến cáo sử dụng Molnupiravir cho bệnh nhân COVID-19 ngƣời lớn 18 tuổi trở lên mức độ nhẹ đến trung bình và có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng [1]. Việc phát hiện và phát triển ban đầu của molnupiravir bắt đầu vào năm 2013, nhằm mục đích tìm ra một loại thuốc kháng vi-rút đƣờng uống để điều trị bệnh nhiễm virus viêm não [15]. Các nhà nghiên cứu đại học Emory sau đó đã tổng hợp thành công molnupiravir từ uridin nhƣng hiệu suất còn thấp và giá thành cao [12]. Các hƣớng đi sau này bắt đầu mở rộng phát triển việc tổng hợp qua cytidin, một nguyên liệu đầu vào giá thành rẻ hơn và phổ biến hơn uridin.

Với mục tiêu tìm ra quy trình tổng hợp molnupiravir đơn giản, an toàn và có thể ứng dụng ở quy mô lớn hơn từ cytidin, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tổng hợp molnupiravir từ ctydin” với mục tiêu: Tổng hợp được molnupiravir ở quy mô phòng thí nghiệm bằng nguyên liệu đầu vào cytidin. Tổng quan về molnupiravir 1. Đặc điểm chung  Tên hóa học: [(2R, 3S, 4R, 5R )- 3,4- dihydroxy- 5- [4- (hydroxyamino ) -2- oxopyrimidin-1-yl] oxolan-2-yl] metyl 2-methylpropanoat [17].  Công thức cấu tạo (Hình 1.

Công thức cấu tạo của molnupiravir  Công thức phân tử: C13H19N3O7.  Phân tử khối: 329,31 đvC [17]. Tính chất lí hóa  Cảm quan: Bột màu trắng đến trắng nhạt [7].  Nhiệt độ nóng chảy: 158-160oC [6].

 Độ tan: Molnupiravir tan tự do trong metanol, tan tốt trong ethanol tuyệt đối, ít tan trong acetonitril và nƣớc. Nó không tan trong diclorometan và n-hexan [17].  Tính acid, base: pKa1, pKa2, pKa3 lần lƣợt là 2,2; 10,2; 12,0 [7].  Hệ số phân tán: log D = 0,46 (pH 7) [7].

 Tính hút ẩm: Molnupiravir không có tính hút ẩm với độ ẩm chênh lệch 0,1% ở 95% RH và 25°C [7]. Biệt dược Lagevrio® viên nang cứng 200 mg do tập đoàn dƣợc phẩm đa quốc gia Merck của Mỹ sản xuất. Mỗi viên nang cứng chứa 200 mg molnupiravir [20]. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã có Quyết định số 69/QĐ-QLD cấp giấy đăng ký lƣu hành có điều kiện đối với 03 thuốc chứa hoạt chất Molnupiravir sản xuất trong nƣớc, cụ thể: Thuốc Molnupiravir 200mg của Công ty CP Hóa- Dƣợc phẩm Mekophar; Molnupiravir 400mg của Công ty TNHH Liên doanh StellaPharm; Molnupiravir 400mg của Công ty Cổ phần dƣợc phẩm Boston Việt Nam [2].

Tính chất dược động học Molnupiravir là dạng ester 5’-isobutyrat của N-hydroxycytidin (NHC) bị thủy phân thành NHC trƣớc khi đến hệ tuần hoàn. Dƣợc động học của NHC tƣơng tự nhau ở những ngƣời khỏe mạnh và bệnh nhân bị COVID-19 [20]. 2 Hấp thu Sau khi uống 800 mg molnupiravir mỗi ngày hai lần, thời gian trung bình để nồng độ NHC trong huyết tƣơng đạt đỉnh (T max ) là 1,5 giờ. Ảnh hưởng của thức ăn đến sự hấp thụ qua đường miệng Ở những ngƣời khỏe mạnh, việc sử dụng một liều molnupiravir 200 mg duy nhất với bữa ăn giàu chất béo làm giảm 35% nồng độ đỉnh NHC (C max ), AUC không bị ảnh hƣởng đáng kể [20].

Phân bố Molnupiravir, NHC và dẫn chất triphosphat tƣơng ứng của nó (NHC-TP) đƣợc định lƣợng trong một số mô (phổi, lá lách, thận, gan, tim và não) của chuột nhắt, chuột cống, chó, khỉ và chồn sau khi uống một hoặc nhiều liều molnupiravir. Nói chung, molnupiravir hoặc không đƣợc phát hiện hoặc ở gần giới hạn phát hiện trong các mô này. NHC và NHC-TP đƣợc quan sát thấy trong tất cả các mô và sự phơi nhiễm của chúng phụ thuộc vào liều lƣợng. Ở hầu hết các loài, NHC-TP thƣờng có mức độ phơi nhiễm cao nhất ở phổi và lá lách, và mức độ thấp nhất trong não [7].

Liên kết protein huyết tƣơng: Sự gắn kết với protein huyết tƣơng của molnupiravir không đƣợc đánh giá vì nó không bền trong huyết tƣơng [20]. Chuyển hóa Trong nƣớc tiểu ngƣời sau khi uống molnupiravir, NHC, cytidin và uridin đã đƣợc phát hiện. Tất cả đều thể hiện sự gia tăng nồng độ phụ thuộc vào liều lƣợng, cho thấy rằng một số lƣợng pyrimidin nội sinh có nguồn gốc từ liều uống của molnupiravir. Nhìn chung, phần lớn liều liên quan đến molnupiravir ở động vật và ngƣời đƣợc chuyển đổi thành NHC, NHC-TP và (hoặc cuối cùng thành) uridin hoặc cytidin sau đó trộn với nhóm nucleosid nội sinh [7].

Thải trừ Molnupiravir có thời gian bán thải trung bình là 3,3 giờ. Thải trừ chủ yếu qua nƣớc tiểu dƣới dạng NHC với tỉ lệ <4% đối với những ngƣời khỏe mạnh [20]. Cơ chế tác dụng Enzym ARN polymerase phụ thuộc ARN (RdRp ) là một enzym xúc tác quá trình sao chép ARN từ khuôn mẫu ARN. Cụ thể, nó xúc tác tổng hợp sợi ARN bổ sung cho một khuôn mẫu ARN nhất định.

Điều này trái ngƣợc với các ARN polymerase phụ thuộc ADN điển hình, mà tất cả các sinh vật sử dụng để xúc tác quá trình phiên mã ARN từ khuôn mẫu ADN. RdRp là một protein thiết yếu đƣợc mã hóa trong bộ gen của hầu hết các virus, bao gồm cả SARS-CoV-2 [3]. Molnupiravir là một chất tƣơng tự ribonucleosid có chức năng kháng virus, hoạt động rộng. Molnupiravir bị thủy phân bởi các esterase trong hoặc sau khi hấp thu để đƣa NHC vào hệ tuần hoàn.

bên trong tế bào, NHC đƣợc phosphoryl hóa thành 3 NHC-TP, và hoạt động nhƣ một chất nền thay thế cạnh tranh với RdRp. NHC-TP có thể kết hợp với guanosin hoặc adenosin, và do đó có thể thay thế cho cytidin triphosphat (CTP) hoặc uridin triphosphat (UTP) tƣơng ứng. Điều này dẫn đến sự tích tụ đột biến ở bộ gen virus với mỗi chu kỳ nhân lên của virus, đƣợc gọi là cơ chế tai biến lỗi hoạt động. Kết quả, sự gia tốc phân rã của virus dẫn đến sự tuyệt chủng của chúng, bằng cách tăng tỷ lệ đột biến vƣợt quá ngƣỡng mà virus có thể nhân lên [7].

Tính chất dược lực học Khả năng kháng thuốc: Không có sự thay thế acid amin nào trong SARS-CoV- 2 liên quan đến kháng NHC đã đƣợc xác định trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 đánh giá molnupiravir để điều trị COVID-19. Các nghiên cứu để đánh giá sự lựa chọn kháng NHC với SARS-CoV-2 trong nuôi cấy tế bào vẫn chƣa đƣợc hoàn thành [20]. Chỉ định Molnupiravir dùng cho bệnh nhân COVID-19 ngƣời lớn 18 tuổi trở lên mức độ nhẹ đến trung bình và có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng. Thuốc sử dụng trong vòng 5 ngày kể từ khi khởi phát các triệu chứng hoặc có kết quả xét nghiệm dƣơng tính.

Bệnh nhân cần nhập viện đã đƣợc khởi trị molnupiravir trƣớc đó có thể tiếp tục sử dụng thuốc để hoàn thành phác đồ điều trị 5 ngày tùy theo quyết định của bác sĩ điều trị [1]. Chú ý: Không khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em dƣới 18 tuổi do quan ngại nguy cơ độc tính trên thai nhi, trên xƣơng, sụn của thuốc. Phụ nữ có khả năng mang thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp và có hiệu quả trong quá trình điều trị và trong vòng 4 ngày sau khi sử dụng liều molnupiravir cuối cùng. Đối với nam giới trong độ tuổi sinh sản sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp và hiệu quả trong thời gian điều trị và ít nhất 3 tháng sau liều molnupiravir cuối cùng [1].

Liều dùng và cách dùng: Liều khuyến cáo: 800 mg (bốn viên nang 200 mg) uống mỗi 12 giờ trong 5 ngày. Chƣa xác định đƣợc tính an toàn và hiệu quả của molnupiravir khi dùng trong thời gian dài hơn 5 ngày [1], [20]. Liều bị bỏ lỡ: Nếu bệnh nhân bỏ lỡ một liều trong vòng 10 giờ kể từ thời điểm thƣờng dùng thuốc, bệnh nhân nên uống càng sớm càng tốt và tiếp tục lịch dùng thuốc bình thƣờng. Nếu bệnh nhân bỏ lỡ một liều trong hơn 10 giờ, bệnh nhân không nên dùng liều đã quên và thay vào đó hãy dùng liều tiếp theo vào thời gian đã định.

Bệnh nhân không nên tăng gấp đôi liều để bù cho liều đã quên [20]. Tác dụng không mong muốn Trong một phân tích của thử nghiệm giai đoạn 3 với các đối tƣợng bị COVID- 19 từ nhẹ đến trung bình đƣợc điều trị bằng molnupiravir (n = 386), các phản ứng có hại phổ biến nhất (≥1% đối tƣợng) đƣợc báo cáo trong quá trình điều trị và trong 14 ngày sau liều cuối cùng là tiêu chảy (3%), buồn nôn (2%), chóng mặt (1%) và đau đầu (1%), tất cả đều ở mức độ 1 (nhẹ) hoặc độ 2 (trung bình) [20]. Các phƣơng pháp tổng hợp molnupiravir Hình 1. Tóm tắt các phương pháp tổng hợp molnupiravir 5 Có rất nhiều con đƣờng tổng hợp molnupiravir đƣợc báo cáo tới thời điểm này.

Phân loại theo nguyên liệu đầu vào, các quá trình tổng hợp molnupiravir đƣợc phân loại thành 3 hƣớng đi chính (xem Hình 1.2):  Hƣớng 1: Tổng hợp molnupiravir từ uridin. Nhóm tác giả từ đại học Emory và R.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ