ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tim mạch là bệnh phổ biến, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và sức khỏe của con người. Bệnh thường gặp ở những người trên 50 tuổi và có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tàn tật và tỷ lệ tử vong cao.9 triệu người chết do bệnh tim mạch, chiếm khoảng 31% số ca tử vong trên toàn thế giới. Bệnh tim mạch gây ra gánh nặng kinh tế và sức khỏe cho toàn cầu [28]. Xơ vữa động mạch (XVĐM) được coi là một trong những nguyên nhân của các bệnh tim mạch như: tăng huyết áp, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim cấp tính [233].
Chính vì vậy, chống xơ vữa động mạch được nhiều người quan tâm và tìm, viêc lựa chọn các loại thuốc tự nhiên đang được ưa chuộng nhờ hiệu quả vượt trội và độ an toàn cao. Trong những năm gần đây các bằng chứng khoa học cho thấy một số các dược liệu đã đạt được kết quả tốt trong hỗ trợ điều trị xơ vữa động mạch. Do đó, các sản phẩm có nguồn gốc từ thuốc thảo dược chắc chắn là nguồn tài nguyên vô giá để xác định các loại thuốc ứng cử viên để điều trị xơ vữa động mạch. Với mong muốn góp thêm các thông tin về một số dược liệu có tác dụng chống xơ vữa động mạch nên em tiến hành thực hiện đề tài “Tổng quan các dược liệu có tác chống xơ vữa động mạch” với mục tiêu: Thu thập thông tin và hệ thống hoá một số dược liệu có tác dụng chống xơ vữa động mạch.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tượng nghiên cứu Tài liệu về tác dụng dược lý, thành phần hóa học của các dược liệu được biết đến có tác dụng chống xơ vữa động mạch.2 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ nghiên cứu sau: Hình 1. 1 Sơ đồ các bước nghiên cứu 1.1 Phương pháp thu thập thông tin Bước 1: Xác định từ khóa tìm kiếm và nguồn thông tin tìm kiếm. Từ khóa tìm kiếm tiếng Anh: “atherosclerosis”, “herbal medicine”, “natural product”, “natural extract”, “natural compound”, “traditional Chinese medicine”, “cardiovascular disease”. Từ khóa tìm kiếm tiếng Việt: “ dược liệu”, “ xơ vữa động mạch”.
Nguồn thông tin tìm kiếm: Các nguồn thông tin trong nước: sách, luận văn. Các nguồn thông tin nước ngoài là các cơ sở dữ liệu: Pubmed, the Web of Science, Google Scholar, ScienceDirect. Bước 2: Tiến hành tìm kiếm Sử dụng cụm từ khóa tìm kiếm: “atherosclerosis” “cardiovascular disease” ,kết hợp với “herbal medicine” hoặc “natural product” hoặc “natural extract” hoặc “natural compound” hoặc “traditional Chinese medicine” để tra cứu trên các cơ sở dữ liệu khoa học: Pubmed, the Web of Science, Google Scholar, ScienceDirect. Bước 3: Tiêu chí lựa chọn nghiên cứu Tiêu chí lựa chọn nghiên cứu: Các bài báo, nghiên cứu là kết quả tìm kiếm của các từ khóa ở trên.
Bài báo tiếp cận được toàn văn. 2 Tiêu chí loại trừ: Các bài báo có đề cập đên các từ khóa tìm kiếm, nhưng không có kết quả nghiên cứu chứng minh dược liệu có tác dụng chống XVĐM. Các bài báo không tiếp cận được toàn văn. Bước 4: Tổng hợp và phân tích thông tin Bước này được trình bày chi tiết ở mục 1.2 Phương pháp xử lý thông tin 1.1 Thu thập thông tin chung về dược liệu Các thông tin chung của dược liệu bao gồm: - Tên khoa học, họ.
- Bộ phận dùng. - Tính vị, quy kinh. - Công năng, chủ trị (nếu có). - Thành phần hóa học chính.
- Lưu ý khi sử dụng.2Thu thập thông tin về tác dụng chống XVĐM: Các thông tin về tác dụng chống XVĐM của dược liệu: Tác dụng, cơ chế chống XVĐM: Loại mẫu thử (chiết xuất, hợp chất ), mô hình đánh giá, kết quả nghiên cứu.3 Phân tích kết quả Sau khi thu thập các thông tin chung và thông tin về tác dụng chống XVĐM , em tiến hành trình bày kết quả của em theo danh sách các dược liệu, xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Sau khi thu thập thông tin, tiến hành phân tích và tổng hợp các thông tin theo theo các tiêu chí sau: - Tác dụng chống xơ vữa động mạch. - Cơ chế tác dụng chống xơ vữa động mạch: Tập hợp và phân loại theo cơ chế tác dụng. Thông tin này sẽ giúp hệ thống hóa và làm rõ các đặc tính và tác dụng của dược liệu, tạo cơ sở cho việc lựa chọn và áp dụng các dược liệu trong điều trị XVĐM.
ĐẠI CƯƠNG VỀ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH 2.1 Khái niệm xơ vữa động mạch Khái niệm: Xơ vữa động mạch là bệnh lý xảy ra ở các động mạch lớn và vừa, trong đó có động mạch vành; đặc trưng bởi tình trạng lắng đọng dần các mảng lipid ở thành mạch gây hẹp dần lòng mạch, giảm tưới máu mô ở phía xa [1], [209].2 Nguyên nhân của xơ vữa động mạch Các yếu tố nguy cơ di truyền và môi trường đã được xác định bởi các nghiên cứu dịch tễ học, sự hiểu biết về các yếu tố khác góp phần gây ra xơ vữa động mạch để phát triển các chiến lược mới cho phòng ngừa và điều trị [65], [1]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: Rối loạn lipid máu: Tăng Lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp (LDLc) và lipoprotein cholesterol tỷ trọng rất thấp (VLDL), Giảm lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao (HDLc) [65], [1] Tăng huyết áp: có thể dẫn đến viêm mạch máu thông qua các cơ chế với angiotensin II là trung gian. Angiotensin II kích thích các tế bào nội mô, các tế bào cơ trơn mạch máu (VSMC), và các đại thực bào để sản sinh các chất trung gian tăng xơ vữa, bao gồm các cytokin tiền viêm, các anion superoxid, các yếu tố tăng huyết khối, các yếu tố tăng trưởng, và các receptor giống lectin cho LDLc bị oxy hóa.[13] Đái tháo đường: làm hình thành các chất glycan hóa, qua đó tăng cường quá trình sản xuất các cytokin tiền viêm từ tế bào nội mạc. Các chất oxy hóa và gốc tự do chứa oxy sinh ra trong bệnh đái tháo đường gây tổn thương trực tiếp nội mạc và thúc đẩy xơ vữa động mạch.
[13] Nam giới: Đàn ông dễ bị xơ vữa động mạch hơn phụ nữ. Các triệu chứng đầu tiên của bệnh lý này có thể bắt đầu ở tuổi 45 hoặc thậm chí sớm hơn ở nam giới, và ở phụ nữ, nó có thể được quan sát thấy sau tuổi 55. [13] Hút thuốc: chứa nicotin và các hóa chất khác độc hại với nội mô mạch máu. Hút thuốc, kể cả hút thuốc lá thụ động, làm tăng phản ứng tiểu cầu (có thể làm tăng huyết khối), nồng độ fibrinogen trong huyết tương và hematocrit (tăng độ nhớt máu).
Hút thuốc làm tăng LDLc và giảm HDLc; nó cũng thúc đẩy sự co thắt mạch máu, đặc biệt nguy hiểm trên động mạch đã bị hẹp do xơ vữa từ trước. [13] Mức độ homocystein tăng cao [65], [1] Hội chứng chuyển hóa [65], [1] Béo phì [65], [1] Tiền sử gia đình [65], [1] 1 Trong số các yếu tố nguy cơ kể trên, rối loạn lipid máu là yếu tố duy nhất đủ để thúc đẩy sự phát triển của XVĐM, ngay cả khi không có các yếu tố nguy cơ khác.3 Cơ chế bệnh sinh của xơ vữa động mạch Xơ vữa động mạch là một bệnh viêm miễn dịch mãn tính, bệnh tăng sinh xơ hóa của các động mạch cỡ lớn và vừa được cung cấp nhiên liệu bởi lipid. Các tế bào nội mô, bạch cầu và tế bào cơ trơn nội mô là những nhân tố chính trong sự phát triển của bệnh này.1 Khởi đầu quá trình XVĐM và hình thành vệt mỡ XVĐM bắt đầu do rối loạn chức năng nội mô kèm theo sự lắng đọng LDLc và sự biến đổi của nó ở lớp nội mạc. LDLc biến đổi, cùng với các yếu tố gây xơ vữa khác, thúc đẩy hoạt hóa nội mạc, dẫn đến huy động bạch cầu đơn nhân trong lớp nội mạc.
Các LDLc đã biến đổi được các tế bào đơn nhân biệt hóa và VSMC hấp thu, thúc đẩy sự hình thành tế bào bọt. Ngoài ra, một số con đường truyền tín hiệu viêm được kích hoạt, cho phép hình thành các vệt mỡ, biểu hiện dấu hiệu đầu tiên của chứng xơ vữa động mạch và được đặc trưng bởi sự tích tụ lipid cả trong tế bào (đại thực bào và VSMC) và môi trường ngoại bào. [92] Rối loạn chức năng nội mô Sự gián đoạn các cơ chế liên quan đến điều hòa cân bằng nội môi mạch máu dẫn đến rối loạn chức năng nội mô làm thành mạch dễ bị co, tăng thâm nhiễm lipid, tăng kết dính bạch cầu, kích hoạt tiểu cầu và stress oxy hóa, cùng nhiều vấn đề khác. Những điều này gây ra phản ứng viêm được coi là bước đầu tiên của quá trình hình thành mảng xơ vữa: vệt mỡ.
Ngoài ra, rối loạn chức năng nội mô cũng đóng một vai trò đáng chú ý trong các giai đoạn tiếp theo của quá trình xơ vữa động mạch bằng cách tham gia vào quá trình phát triển mảng bám và sự vỡ của nó ở giai đoạn cuối của quá trình xơ vữa động mạch. Do đó, rối loạn chức năng nội mô được coi là dấu hiệu sớm của tình trạng xơ vữa động mạch. [92] Ảnh hưởng của lực huyết động: Tổn thương thành mạch có xu hướng thường gặp hơn ở những vị trí nhất định trong lòng mạch máu. Dòng máu chảy gây ra áp lực lên thành mạch, do đó ảnh hưởng đến đặc tính sinh học của tế bào nội mô.
Ở đoạn mạch với áp lực thay đổi, nhất là ở đoạn gập góc, có dòng máu xoáy gây ra rối loạn chức năng nội mạc, sẽ kích hoạt quá trình hình thành mảng xơ vữa. Điều này giải thích tại sao mảng xơ vữa lại hay gặp ở các vị trí gập góc. [92] Giảm khả năng sản xuất NO cũng gây rối loạn chức năng nội mạc: NO được tổng hợp từ L-arginine trong nội mạc theo phản ứng được xúc tác bởi eNOS và khuếch tán qua màng tế bào, đến mô cơ trơn của thành động mạch. NO thúc đẩy sự thư giãn 2 của sợi cơ trơn ( giãn mạch); giảm kết tập tiểu cầu; giảm quá trình oxy hóa và viêm mô; giảm kích hoạt các yếu tố gây huyết khối.
[92] Lắng đọng Lipoprotein Sự tích lũy LDLc trong huyết tương tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của LDLc vào lớp nội mô. Các hạt LDLc thoát mạch qua lớp nội mô bị thủng hoặc khiếm khuyết vào khoang dưới nội mô. Khi ở trong khoang dưới nội mô, các hạt LDLc bị mắc kẹt sẽ bị oxy hóa, một quá trình được tạo điều kiện thuận lợi do không có chất chống oxy hóa bảo vệ. LDLc bị oxy hóa (LDLox) là thành phần gây viêm quan trọng thúc đẩy sự phát triển mảng xơ vữa động mạch.