CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 1. Khái niệm chung về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử loài người, con người luôn cố gắng tạo lập, chiếm giữ những của cải, vật chất thành sự chiếm hữu riêng của riêng họ. Ở giai đoạn xác lập những cách thức đó, giữa các chủ thể này với chủ thế khác cũng xuất hiện mối quan hệ với những của cải, vật chất nêu trên.
Từ đây, xã hội hình thành nên mối quan hệ sở hữu. Việc hình thành nên quan hệ sở hữu là một vấn đề tất yếu của xã hội loài người. Từ nhu cầu chiếm hữu, các chủ thể cũng phát sinh thêm nhu cầu công nhận và được bảo vệ sự chiếm hữu của bản thân đối với tài sản của họ. Từ đó, các quốc gia luật hóa nhu cầu trên thành quyền sở hữu.
Theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015, Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.1 Trong đó: Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.2 Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.3 Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.4 Quyền sở hữu tài sản là một loại quyền năng cơ bản luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam, quyền sở hữu luôn 1 Điều 158 BLDS năm 2015.
8 được ghi nhận và đảm bảo theo những phương thức nhất định. Để đảm bảo mục tiêu, đường lối của Hiến pháp, quyền sở hữu tài sản được thể chế hóa thông qua các quy phạm trong các lĩnh vực pháp luật như hành chính, dân sự, hình sự, thương mại. Trong lĩnh vực hình sự, quyền sở hữu tài sản được bảo hộ thông qua các điều luật trong BLHS. Đặc biệt, BLHS dành riêng Chương XVI quy định về “Các tội xâm phạm sở hữu” để điều chỉnh về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản.
Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quan hệ sở hữu với mức độ gây nguy hiểm cho xã hội nhất định sẽ phải chịu sự điều chỉnh của những quy định này, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội này sẽ bị coi là tội phạm xâm phạm sở hữu. Về khái niệm các tội phạm xâm phạm sở hữu, hiện nay BLHS năm 2015 vẫn chưa xây dựng được khái niệm này. Bên cạnh đó, có một số quan điểm trình bày như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân”.5 Quan điểm thứ hai cho rằng: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân”.6 Một quan điểm khác lại cho rằng: “Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản nguy hiểm cho xã hội của hành vi”.7 Theo quan điểm của tác giả, khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu phải có tính tổng quát, toàn diện và phản ánh được cả bản chất pháp lý lẩn bản chất xã hội của tội phạm, từ đó phân biệt các tội phạm này với các tội phạm khác. Đồng thời, khái niệm này còn phải bao gồm những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 kết hợp với các dấu hiệu đặc trưng của các tội này.
5 Nguyễn Thị Thúy Hồng (2014), Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo Bộ luật Hình sự năm 1999, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 6 Nguyễn Thị Thúy Hồng, tlđd (chú thích số 5), tr. 7 Nguyễn Thị Thúy Hồng, tlđd (chú thích số 5), tr. 9 Từ những phân tích trên, khái niệm này có thể được định nghĩa như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS và đủ độ tuổi chịu TNHS thực hiện thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu”.8 Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan, các tội xâm phạm sở hữu được chia làm 2 nhóm: - Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (được quy định từ Điều 168 đến Điều 175 Chương XVI BLHS năm 2015).
- Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt (được quy định từ Điều 176 đến Điều 180 Chương XVI BLHS năm 2015). Trong công trình này, tác giả chỉ nghiên cứu về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Về cơ bản, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu mà hành động chiếm đoạt tài sản và dấu hiệu chiếm đoạt tài sản luôn là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của những tội này. Trong đó, chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình.9 Xung quanh khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, hiện nay pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về khái niệm này nên có nhiều quan điểm đưa ra định nghĩa khác nhau.
Theo quan điểm của tác giả, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo Luật hình sự quy định thực hiện một cách cố ý xâm hại quyền sở hữu tài sản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm phạm quyền sở hữu tài sản, các tội xâm phạm sở hữu chia thành hai nhóm là: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt nhưng dù thuộc nhóm tội nào thì hành vi phạm tội đối với các tội này đều có chung bản chất đó là xâm phạm sở hữu nên đều được quy định trong chương “Các tội xâm phạm sở hữu”. 8 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình luật hình sự (Phần chung), TS. Trần Thị Quang Vinh, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia, tr.
9 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình luật hình sự (Phần các tội phạm), TS. Trần Thị Quang Vinh, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia, tr. 10 Do đó, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt cũng có các đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu và có đặc điểm đặc trưng riêng của nhóm tội này. Cụ thể như sau: Thứ nhất, khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là quan hệ sở hữu tài sản chỉ xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản và có thể xâm phạm đến quan hệ nhân thân như một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là tội cướp tài sản, cướp giật tài sản hay bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây là một trong các đặc điểm giúp phân biệt giữa tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với tội phạm xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt không chỉ xâm phạm đến ba quyền cơ bản là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ thể khác mà các tội phạm thuộc nhóm này còn có thể xâm phạm đến các quyền nhân thân của chủ thể sở hữu tài sản như quyền tự do thân thể, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tinh thần của chủ thể khác. Điển hình như tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài sản (Điều 171) quy định tại BLHS năm 2015. Thứ hai, đối tượng tác động chủ yếu của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là tài sản.
Theo đó, đối tượng mà các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nhắm đến chính là tài sản. Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản đang trong sự quản lý của người khác. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.10 Trên thực tế, các loại tài sản hữu hình như vật, tiền, giấy tờ có giá thường trở thành đối tượng phổ biến mà các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nhắm đến hơn là quyền tài sản. Bởi các tài sản hữu hình có tính lưu thông phổ biến, dễ dàng quy ra hoặc mua bán lại với giá trị cao trong thời gian ngắn.
Thứ ba, hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt luôn thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, thông qua các hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây có thể được xem là đặc điểm đặc thù giúp phân định được hai nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu. Hành vi chiếm đoạt tài sản là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lý của chủ sở hữu thành của mình. Nói cách khác, khi thực hiện thành công hành vi chiếm đoạt tài sản, chủ sở hữu tài sản mất khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản, đồng thời tạo cho người chiếm đoạt các quyền này.