CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẤT LÂM NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT LÂM NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò đất lâm nghiệp 1. Khái niệm về đất lâm nghiệp Đất lâm nghiệp là một loại đất nằm trong nhóm đất nông nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất trồng rừng, đất khoanh nuôi tu bổ tái sinh phục hồi rừng, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về rừng [31] 1.
Đặc điểm đất lâm nghiệp Khác với tư liệu sản xuất khác, đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng là tư liệu sản xuất chủ yếu, nên đất lâm nghiệp có chung với những đặc điểm của đặc điểm của đất đai sau: - Đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng bị giới hạn về mặt không gian Đặc điểm này thể hiện: đất đai nguyên thủy là sản phẩm của tự nhiên, trong quá trình tác động của con người vào đất đai để tiến hành sản xuất kinh doanh đất đai trở thành sản phẩm lao động của con người. Đất canh tác, đất Lâm nghiệp có hạn về mặt diện tích do giới hạn của bề mặt quả đất, do yêu cầu sử dụng ngày càng nhiều đất của các ngành kinh tế thông qua quá trình phát triển kinh tế xã hội, hơn nữa không phải toàn bộ diện tích đất tự nhiên đều có thể huy động vào sản xuất được. Từ đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng đất cần hết sức quý trọng và tiết kiệm, bồi dưỡng, bảo vệ đất đai. [31] - Nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai nói chung và đất lâm nghiệp không ngừng được tăng lên Sức sản xuất của đất là không giới hạn và tăng không ngừng, gắn liền với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác tiên tiến.
Sức sản xuất của đất biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất. Vì vậy, cần có các biện pháp nâng cao phì nhiêu của đất, khai thác chiều sâu của đất. Mặc khác cũng đặt ra vấn đề xác định giá trị của đất phục vụ cho công tác quản lý đất đai. [31] 7 van - Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều.
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết, ngược lại, đất đai -tư liệu sản xuất chủ yếu có vị trí cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng như khí hậu, thổ nhưỡng, cây trồng, vật nuôi, điều kiện giao thông, dân số. Từ đặc điểm này đòi hỏi phải quy hoạch các khu vực canh tác, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với vùng lập địa, bố trí các điểm dân cư, các trung tâm dịch vụ hợp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện để sử dụng đất có hiệu quả. Vai trò của đất lâm nghiệp Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn có chức năng khai thác sử dụng rừng. Có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội.
Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc". Có thể tóm tắt một số vai trò chủ yếu sau: - Vai trò cung cấp: + Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ. + Cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư. + Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản.
+ Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người. + Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm.phục vụ nhu cầu đời sống xã hội. - Vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái: + Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện. 8 van + Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn.bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển.
+ Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển. + Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất. + Bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch. + Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.
- Vai trò xã hội: Rừng và đất rừng (Lâm nghiệp) là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội. - Vai trò chức năng nghiên cứu khoa học: Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là rừng. Rừng luôn chứa đựng nhiều vấn đề bí ẩn cần phải bảo tồn và nghiên cứu, đặc biệt là tính đa dạng sinh học của rừng không chỉ có giá trị trước mắt mà còn có giá trị cho các thế hệ tương lai. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp 1.
Sử dụng đất lâm nghiệp phải hợp lý và đầy đủ Thực chất của nguyên tắc này là huy động tối đa diện tích đất đai tự nhiên hiện có vào sản xuất lâm nghiệp. Sử dụng tiết kiệm và hợp lý đất đai đòi hỏi việc lụa chọn và bố trí những cây trồng, vật nuôi, áp dụng công nghệ phải phù hợp với điều kiện vùng sinh thái, như vậy mới có thể khai thác tối đa độ phì nhiêu của đất. Bên cạnh đó phải luôn chú ý đến các biện pháp cải tạo và bồi dưỡng đất. Sử dụng đất lâm nghiệp phải đạt hiệu quả cao Sử dụng đất hợp lý phản ánh tính hợp lý về mặt định tính.
Còn sử dụng đất đạt hiệu quả kinh tế cao phản ánh tính thích hợp về mặt định lượng. nó yêu cầu khi sử dụng là phải tăng sức sản xuất củ đất hay tăng khối lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất. Sử dụng đất lâm nghiệp phải đảm bảo tính bền vững Nguyên tắc này đòi hỏi khi sử dụng đất đai phải kết hợp hiệu quả kinh tế với bảo vệ đất, bảo vệ bền vững sinh thái cae trước mắt và trong tương lai. Phải lấy nguyên lý sinh thái học, các quy luật sinh thái làm căn cứ để kinh doanh tổng hợp.
Đặc biệt khi sử dụng đất đai phải luôn luôn kết hợp giửa lợi ích sinh thái, lợi ich kinh tế và lợi ích xã hội. Sản phẩm củ việc sử dụng đất không phải chỉ là ở những sản phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi mà còn cả sản phẩm của môi trường sinh thái. Hệ thống phân loại đất lâm nghiệp 1. Hệ thống phân loại đất chung toàn quốc Các số liệu thống kê, kiểm kê đất đai toàn quốc dựa trên hệ thống phân loại sử dụng đất được quy định trong Luật đất đai (2013).
[13] Hệ thống phân loại sử dụng đất được chia làm 04 nhóm chính: Nhóm đất nông nghiệp; nhóm đất phi nông nghiệp; nhóm đất chưa sử dụng và nhóm đất có mặt nước ven biển. Nhóm đất Nông nghiệp bao gồm các loại chính sau: Đất sản xuất nông nghiệp ; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác trồng cây hàng năm ; Như vậy, đất lâm nghiệp ở đây nằm trong nhóm đất nông nghiệp bao gồm 3 loại: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Quan điểm phân loại đất lâm nghiệp Dựa trên hệ thống phân loại sử dụng đất toàn quốc việc phân loại sử dụng đất lâm nghiệp cần phải đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ, sử dụng và quy hoạch đất đai của ngành. Hơn thế nữa sử dụng đất đai trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng có những thay đổi cơ bản theo từng giai đoạn nên quan điểm phân loại sử dụng đất cũng có những thay đổi phù hợp.
a) Quan điểm phân chia đất nông nghiệp, lâm nghiệp Trước kia diện tích rừng che phủ còn lớn nên hầu hết đất lâm nghiệp được bao phủ bởi rừng. Tuy nhiên trong quá trình canh tác, sử dụng rừng và đất có nhiều biến đổi nên nhiều diện tích rừng bị mất đi trở thành đất trống đồi núi trọc hoặc đất hoang hoá. Những diện tích đất đó đã được sử dụng cho các mục đích khác nhau kể cả lâm nghiệp, nông nghiệp và các mục đích khác. Vì vậy, việc phân chia ranh giới đất nông nghiệp, 10 van lâm nghiệp được hình thành.
Quan điểm chung là những nơi đất dốc, bị thoái hoá, sản xuất nông nghiệp không hiệu quả sẽ là đất lâm nghiệp. Tiêu chuẩn phân chia đất hướng nông, hướng lâm chủ yếu dựa vào độ dốc và độ dày tầng đất.1: Tiêu chuẩn sử dụng đất cho nông nghiệp và lâm nghiệp Độ dày tầng Độ dốc Cách sử dụng đất (cm) Theo độ Theo % <15 <27 >35 Nông nghiệp, với ruộng bậc thang tưới, tiêu. 15 - 18 27 - 33 >35 Ruộng bậc thang theo đường đồng mức 18 - 25 33 - 47 >35 Nông Lâm kết hợp, bãi chăn nuôi, cây công nghiệp >25 >47 Cho mọi độ dày Lâm nghiệp (Nguồn: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) Tiêu chuẩn phân chia đất hướng lâm, hướng nông theo độ dốc như trên theo quan 0 điểm sử dụng đất hiện nay là không phù hợp, không phải tất cả các độ dốc >25 đều là đất lâm nghiệp và ngược lại tất cả đất có độ dốc thấp hơn đều là đất nông nghiệp (vùng cao nguyên, đồng bằng sông Cửu Long,…). Sử dụng đất hiện nay theo hướng nông lâm ngư kết hợp là khuynh hướng chủ đạo.
Nhiều diện tích xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn đều gây trồng theo phương thức Nông lâm kết hợp, lấy ngắn nuôi dài hoặc dành một số diện tích nhất định cho người dân sản xuất nông nghiệp.