CHƯƠNG 1: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở hữu. Tại Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi. Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh.
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động. Thứ nhất, các chủ thể kinh tế tự bù đắp chi phí, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất của mình và tự tổ chức quá trình sản xuất theo luật định. Đặc điểm này tạo ra tính tự chủ cho doanh nghiệp. Thứ hai, nền kinh tế thị trường là hình thái phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển đa dạng, trong đó doanh nghiệp phải cạnh tranh một cách khốc liệt.
Các doanh nghiệp không được nhà nước bao cấp nữa mà phải tự bươn chải và luôn phải phấn đấu vươn lên dành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh. Thứ ba, các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường phải chịu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác động của rất nhiều các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào nhận thức đúng đắn, nhanh nhẹn và nhạy bén các quy luật này, doanh nghiệp đó sẽ đứng vững và tồn tại và ngược lại. Thứ tư, Nhà nước đang nỗ lực hoàn thiện cơ chế pháp lý, nhất là hệ thống pháp luật tạo ra một sân chơi bằng phẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Đồng thời cũng tạo áp lực cho các doanh nghiệp phải tự khẳng định mình, chủ động khai thác, tạo lập, tổ chức quản lý và sử dụng vốn cho hoạt động của mình. Thứ năm, doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ. Với tốc độ phát triển của khoa hoc- kĩ thuật như hiện nay thì thật sự đây là yếu tố rất quan trọng, nó thúc đẩy sự thay đổi của phương thức sản xuất, từ đó dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Nói tóm lại, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, môi trường hoạt động của các doanh nghiệp là rất khắc nghiệt.
Do vậy yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải gắn các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình với các quy luật kinh tế thị trường, “bán cái thị trường cần chứ không bán cái mình có”. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp phải biết phát huy quyền làm chủ của mình, biết quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả vốn kinh doanh, có vậy doanh nghiệp mới tồn tại được trong điều kiện nền kinh tế mới. Khái niệm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào: sức lao động và đối tượng lao động để tạo ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Tuy nhiên muốn tiến hành được quá trình trên thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tư bản nhất định để mua sắm các yếu tố đầu vào cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, lượng tư bản này được gọi là vốn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Doanh nghiệp muốn phát triển được thì số tiền thu được do tiêu thụ các sản phẩm phải đảm bảo bù đắp được toàn bộ các chi phí bỏ ra và có một phần lợi nhuận, muốn vậy số tiền bỏ ra ban đầu phải được sử dụng một cách có hiệu quả. Quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện một cách liên tục và không ngừng, tạo ra một vòng tuần hoàn và chu chuyển vốn.Mark đã mô tả quá trình chu chuyển của tư bản theo mô hình sau: T- H …SX …H’- T’ Vòng tuần hoàn của vốn được bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) chuyển sang hình thái hàng hoá (H) ở các dạng TLLĐ và ĐTLĐ, qua quá trình sản xuất vốn được biểu hiện dưới hình thái hàng hoá (H’) và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ (T’).
Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất va lưu thông nên vốn còn là biểu hiện của những tài sản vô hình như: bằng sáng chế, phát minh, bản quyền tác giả, lợi thế thương mại. Như vậy, để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về những đặc trưng của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh. Trong mỗi doanh nghiệp, tuỳ theo từng cách phân loại mà vốn được chia 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành các loại khác nhau, song nếu căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm hai bộ phận: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ).
Vốn cố định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm, lắp đặt các TSCĐ của doanh nghiệp đều phải thanh toán chi trả bằng tiền và số vốn bỏ ra để đầu tư, mua sắm các TSCĐ này được gọi làvốn cố định của doanh nghiệp, Nói cách khác VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của VCĐ ít hay nhiều sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau: Một là: VCĐ tham gia vao nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
Hai là: VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Sau mỗi một chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên.
song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Vốn lưu động Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động (TLLĐ) các doanh nghiệp còn cần có các đối tượng lao động (ĐTLĐ). Khác với các TLLĐ các ĐTLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ được nguyên hình dáng ban đầu, giá trị cuả nó được chuyển dịch một lần hoặc toàn bộ vào giá trị sản phẩm. Những TLLĐ trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các TSLĐ, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy VLĐ là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ, vì vậy đặc điểm của VLĐ là luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ thành hai loại : TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại chi phí bằng tiền, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển….
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các TSLĐ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất và TSLĐ lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu nhất định. Vì vậy cũng có thể nói VLĐ của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm các TSLĐ của doanh nghiệp. Phù hợp với các đặc điểm trên của TSLĐ, VLĐ của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh : dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của VLĐ. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh VLĐ lại thay đổi hình dáng biểu hiện, tuỳ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuỷên sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển. Để quản lý sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại VLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau.
Thông thường có những cách phân loại sau: o Phân loại theo vai trò từng loại VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh .