đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu. Kể cả hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì hiệu quả sử dụng vốn,tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS. Phan Hồng Mai vẫn ở mức thấp. Đó là do các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng tài sản.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng TSLĐ nhằm làm cho TSLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số TSLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn có ý nghĩa quan trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSLĐ.
Do đặc điểm TSLĐ lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái TSLĐ thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSLĐ chỉ xét trên mặt giá trị. Bảo toàn TSLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản lưu động, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả TSLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay. SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS. Phan Hồng Mai Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng tài sản lưu động trong các doanh nghiệp. Đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 1.1 Vòng quay tài sản lưu động Vòng quay tài sản lưu Doanh thu thuần động trong kỳ = TSLĐ bq trong kỳ Việc sử dụng tài sản lưu động đạt hiệu quả có cao hay không biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp nhanh hay chậm.
Tài sản lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Chỉ tiêu vòng quay tài sản lưu động phản ánh trong một năm tài sản lưu động của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản lưu động bình quân trong năm tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.2 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động Hệ số sinh lời tài Lợi nhuận sau thuế = sản lưu động TSLĐ bq trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh lợi tài sản lưu động càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao.3 Một số chỉ tiêu khác Ngoài các chỉ tiêu trên, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động còn được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau : SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS.
Phan Hồng Mai Hệ số thanh toán ngắn hạn: TSLĐ Hệ số thanh Tiền và tương đương tiền + Các khoản = toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong ngắn Tiềnvà tương đương tiền + Các khoản Hệ số thanh toán hiện Phải thu = hành Nợ ngắn hạn hạn,nghĩa là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán dưới một năm của các khoản mục tài sản lưu động của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán nhanh: Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu nghĩa là các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán tức thời Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán đến hạn của doanh nghiệp. Tiềnvà tương đương tiền Hệ số thanh toán tức = thời Nợ ngắn hạn Giá vốn Vòng quay HTK = Giá trị HTK bình quân SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS.
Phan Hồng Mai Vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ánh số lần hàng hoá tồn kho bình quân lưu chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty càng có hiệu quả. Vòng quay các khoản phải thu: Vòng quay các khoản phải thu Doanh thu thuần = Các khoản phải thu bình quân Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu hồi là tốt vì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn (ít phải cấp tín dụng cho khách hàng và nếu có cấp tín dụng cho khách hàng thì chất lượng tín dụng cao) Kỳ thu tiền bình quân Các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân = Doanh thu bình quân 1 ngày Nó cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày, doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình.
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại. Kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng. Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng tài sản lưu động nhưng nó cũng là những công cụ mà người quản lý tài chính cần xem xét để điều chỉnh việc sử dụng tài sản lưu động sao cho đạt hiệu quả cao nhất. SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS.
Phan Hồng Mai 1.4 Một số phương pháp quản lý tài sản lưu động trong doanh nghiệp 1.1 Quản lý tiền mặt Doanh nghiệp tự chủ trong việc quyết định lượng tiền mặt dự trữ. Để quản lý vốn bằng tiền, DN cần thực hiện những mục tiêu sau: Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt Dự báo và xác định nhu cầu vốn bằng tiền Đầu tư thích hợp cho những khoản tiền nhàn rỗi Lập ra kế hoạch vốn bằng tiền: Nội dung cốt lõi của kế hoạch vốn bằng tiền là lập ra bảng dự toán thu chi ngắn hạn. Bảng này bao gồm 2 phần: - Phần thu: gồm tiền bán hàng,,vốn tăng thêm, nhượng bán tài sản. - Phần chi: Bao gồm các khoản chi cho kinh doanh như:mua nguyên vật liệu, chi trả lương, thưởng, nộp thuế mua TSCĐ, trả nợ vay.
Trong kỳ kế hoạch sau khi liệt kê các khoản thu chi, cần tiến hành so sánh xác định mức bội thu, bội chi để có biện pháp nhằm tiến tới cân bằng tích cực. - Nếu DN bị bội thu thì thực hiện trả bớt nợ vay cho ngân hàng, nợ khách hàng, nộp ngân sách, đầu tư vào hoạt động kinh doanh. - Nếu DN bị bội chi thì phải tìm biện pháp tăng tốc độ thu hồi nợ, đẩy mạnh giá trị sản lượng nghiêm thu hoàn thành, vay ngân hàng, giảm bớt chi tiêu. Xây dựng mô hình quản lý vốn bằng tiền: Có 2 mô hình - Mô hình EOQ: Được xây dựng dựa trên các giả định: + Tình hình thu chi tiền mặt ổn định và đều đặn + Không tính đến tiền thu trong kỳ hoạch định + Không có dự trữ cho mục đích an toàn SV: Phạm Thị Hương - Lớp TCDN K13B01 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân GVHD: TS.
Phan Hồng Mai Theo mô hình này lượng tiền dự trữ tối ưu được xác định như sau: Q* = 2*S * F /i Trong đó: S: là tổng lượng tiền cần thiết trong kỳ i : là lãi suất tiền gửi F: chi phí cố định cho một lần vay - Mô hình Miller: Theo mô hình này DN cần xác định khoảng cách giới hận trên và dưới cho quá trình vận động vốn bằng tiền theo công thức sau: D= 3* 3 / 4 * ( * F / i) 3 2 :Phương sai thu chi ngân quỹ mỗi ngày i : lãi suất bình quân mỗi ngày Sau khi xác định khoảng cách giới hạn trên và giới hạn dưới cho quá trình vận động vốn bằng tiền căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền mặt doanh nghiệp xác định giới hạn dưới cho quá trình sự trữ tiền. Mức dự trữ tối ưu của doanh nghiệp sẽ được xác định như sau: Q*= Gđ + d/3 1.2 Quản lý dự trữ Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động, là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ.