CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc trưng tài sản của doanh nghiệp a) Khái niệm Có nhiều khái niệm khác nhau về tài sản. Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, khái niệm tài sản được tiếp cận một cách khác nhau.
Theo Viện ngôn ngữ học: Tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu. Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS): Tài sản là một nguồn lực: - Doanh nghiệp kiểm soát được và - Dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Các “nguồn lực” này có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể như máy móc, nhà xưởng hoặc không có hình thái vật chất cụ thể như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế.
Khả năng “kiểm soát” của doanh nghiệp đối với tài sản xuất phát từ quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài dựa trên các hợp đồng thuê tài chính. “Lợi ích kinh tế trong tương lai” của tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, “Điều 105. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVSC): Tài sản là khái niệm pháp lý bao gồm tất cả các quyền, quyền lợi và lợi nhuận có liên quan đến quyền sở hữu: bao gồm quyền sở hữu cá nhân, nghĩa là chủ sở hữu được hưởng một số quyền lợi, lợi ích nhất định khi làm chủ tài sản đó. b) Đặc trưng - Tài sản có thể tồn tại dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất, hữu hình hoặc vô hình.
- Tài sản được xác định cho một chủ thể nhất định hoặc đặt dưới sự kiểm soát của một chủ thể nhất định. - Tài sản phải mang lại những lợi ích cho chủ sở hữu chúng. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp, cụ thể là máy móc thiết bị, công cụ, nguyên nhiên vật liệu, tiền,.có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh doanh.
Tài sản là giá trị của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng tài sản một cách hợp lý sẽ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường, liên tục với hiệu quả kinh tế cao nhất. Tài sản cũng được coi là một tiêu chí để đánh giá vị thế, chỗ đứng và tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp trên thị trường. Nó còn phản ánh sự phát triển và quy mô của doanh nghiệp.
Tóm lại, trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp từ lúc mới hình thành cho tới khi phát triển ổn định, tài sản là cơ sở vật chất luôn đóng vai trò quan trọng và là một yếu tố không thể thiếu. Việc quản lý tài sản hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh một cách bền vững. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Có nhiều tiêu thức phân loại tài sản, tùy thuộc vào từng mục đích của việc quản lý, sử dụng và nghiên cứu để thực hiện phân loại các tài sản theo các tiêu thức đó. Một số tiêu thức phân loại tài sản chủ yếu như sau: a) Phân loại theo hình thái biểu hiện: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình b) Phân loại theo đặc điểm luân chuyển: Tài sản lưu động và tài sản cố định c) Phân loại theo tính chất sở hữu: tài sản công cộng và tài sản cá nhân d) Phân loại theo khả năng trao đổi: hàng hóa và phi hàng hóa e) Phân loại theo khả năng di dời: Động sản và bất động sản f) Phân loại theo thời gian sử dụng: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn PGS.
Mai Thanh Quế (2015): Tài sản ngắn hạn là toàn bộ những tài sản của doanh nghiệp có thời gian thu hồi vốn hoặc thanh toán trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh bình thường. Tài sản ngắn hạn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, và tài sản ngắn hạn khác. - Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao, dễ bán, dễ chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thiết như: chứng khoán ngắn hạn dễ bán, giấy tờ thương mại ngắn hạn được đảm bảo hoặc có độ an toàn cao, … Tiền và các khoản tương đương tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán.
Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Tuy nhiên, đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết. 8 - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là những khoản doanh nghiệp đầu tư bên ngoài với mục đích sinh lời có thời gian thu hồi ngắn như góp vốn liên doanh ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, đầu tư cổ phiếu ngắn hạn, … - Hàng tồn kho bao gồm: + Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dữ trữ. Đây là các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ, dụng cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo). + Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm. Đây là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho. Tác dụng của phân loại theo hình thái biểu hiện cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, biết được kết cấu tài sản lưu động theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả.
- Các khoản phải thu ngắn hạn chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ngoài ra còn có các khoản ứng trước cho nhà cung cấp, khoản phải thu nội bộ, khoản phải thu về thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, …Thực ra, các khoản phải thu ngắn hạn này là tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị khác chiếm dụng và doanh nghiệp có quyền thu hồi lại các khoản này trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. - Tài sản ngắn hạn khác: Khoản ký quỹ, ký cược ngắn hạn, khoản ứng trước (tạm ứng), chi phí trả trước trong ngắn hạn. Tài sản dài hạn PGS. Mai Thanh Quế (2015): Tài sản dài hạn là toàn bộ những tài sản của doanh nghiệp có thời gian thu hồi vốn hoặc thanh toán từ 1 năm trở lên và trên 1 chu kỳ kinh doanh.
9 Tài sản dài hạn bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, Tài sản cố định, Bất động sản đầu tư, Tài sản dở dang dài hạn, Các khoản đầu tư tài chính dài hạn, Tài sản dài hạn khác. - Các khoản phải thu dài hạn là các khoản phải thu có kỳ hạn thu hồi trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh như phải thu khách hàng dài hạn, phải thu nội bộ dài hạn, ứng trước dài hạn cho người bán, … - Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn là tài sản cố định. Các tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định gồm: + Thời gian sử dụng phải trên một năm + Phải đáp ứng được tiêu chuẩn về giá trị theo quy định hiện hành của pháp luật. Tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia có thể đưa ra thêm các tiêu chuẩn định tính khác nhau.
Ở Việt Nam, một tài sản được ghi nhận là tài sản cố định của doanh nghiệp nếu đáp ứng đồng thời các tiêu chuẩn sau: + Thứ nhất, chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. Điều này đòi hỏi nhà quản trị tài chính phải tính toán so sánh giữa chi phí bỏ ra để có được tài sản với các lợi ích mà tài sản sẽ mang về trong tương lai. Trong trường hợp lợi ích lớn hơn chi phí, tài sản được chấp nhận. + Thứ hai, có thời gian sử dụng từ một năm trở lên + Thứ ba, nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị theo quy định hiện hành (từ 30.000 đồng trở lên).
Xuất phát từ sự tham gia của TSCĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể rút ra các đặc điểm luân chuyển của TSCĐ như sau: + Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh + Giá trị của TSCĐ được chuyển dịch từng phần trong mỗi chu kỳ kinh doanh vào giá trị của sản phẩm. + Toàn bộ giá trị TSCĐ được thu hồi khi TSCĐ hết hạn sử dụng. 10 - Bất động sản đầu tư được định nghĩa theo chuẩn mực kế toán số 05 như sau: “Bất động sản đầu tư là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để: + Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc + Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.