Chương 1. Nhận thức chung về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Chương 2. Quy định của Luật Hình sự Việt Nam về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chương 3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƢƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử Mạng là khái niệm chung dùng để chỉ mạng viễn thông (cố định, di động, Internet), mạng máy tính (WAN, LAN) [7, tr. Mạng máy tính: là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau.
Do hiện nay mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày càng đa dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp. Người ta có thể chia các mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện rộng (là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau như giữa các thành phố hay các tỉnh) và Mạng cục bộ (là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính trong một khu vực như trong một toà nhà, một khu nhà). Viễn thông: là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác [41, tr. Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông [41, tr.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự [37, tr. Theo khái niệm này thì “Phương tiện điện tử” đã bao gồm cả thiết bị số vì theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Công nghệ Thông tin: Thiết bị số: Là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [38, tr.1]; Những thiết bị này phải đáp ứng được các yêu cầu là tác động được vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc tác động vào được thiết bị số, phương tiện điện tử khác để chiếm đoạt được tài sản. Khái niệm về chiếm đoạt tài sản Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm 8 tội phạm được quy định từ điều 133 đến điều 140 BLHS. Các tội này có cùng đặc điểm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác bằng hành vi chiếm đoạt với các thủ đoạn khác nhau.
Nói cách khác, các tội phạm này có cùng hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi chiếm đoạt tài sản, sự khác nhau giữa chúng chỉ là thủ đoạn chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt có những đặc điểm làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu, đồng thời tạo khả năng cho người phạm tội có thể thực hiện được việc chiếm giữ, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt là trái với các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản quy định của Bộ luật dân sự, nên nó bị coi là bất hợp pháp. Vì vậy, về mặt pháp lý việc chuyển dịch tài sản một cách trái pháp luật không thể làm cho người chiếm đoạt trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, chủ sở hữu tuy mất đi khả năng thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt nhưng họ không bị mất đi quyền sở hữu đối với tài sản.
Hành vi chiếm đoạt là một quá trình được bắt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu từ khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt và kết thúc khi đã tạo ra cho mình khả năng thực hiện các quyền của quyền sở hữu và cũng có nghĩa là chủ sở hữu đã mất đi khả năng thực hiện các quyền đó. Quá trình này sảy ra dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất tài sản và thủ đoạn chiếm đoạt. Chẳng hạn: Chiếm đoạt bằng thủ đoạn dùng vũ lực thì quá trình đó ngắn hơn việc chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi chiếm đoạt với nội dung là một quá trình được thể hiện ở những thủ đoạn chiếm đoạt khác nhau, tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt và tài sản bị chiếm đoạt.
Hành vi chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành các tội xâm phạm sở hữu mà còn có thể cấu thành những tội khác trong BLHS tùy thuộc vào tính chất tài sản và mục đích của người thực hiện hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, chỉ cấu thành các tội xâm phạm sở hữu khi chiếm đoạt các tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu và không có mục đích chống chính quyền. Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu. Thiếu đặc điểm này, thì tài sản không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, như trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị thất lạc.
Vì vậy, chỉ khi tài sản còn đang do chủ sở hữu quản lý mới là đối tượng của hành vi chiếm đoạt, mới làm mất khả năng chiếm giữ, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết tài sản thuộc sở hữu của người khác và đang trong sự quản lý của họ, nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt và mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc người khác mà mình quan tâm. Vì vậy, những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý hay không có mục đích chiếm đoạt tài sản đều không phải là hành vi chiếm đoạt.
Những trường hợp này không CTTP hoặc sẽ CTTP khác chứ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không phải các tội chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn những đặc điểm trên, nếu thiếu một trong các đặc điểm đó sẽ không phải là hành vi chiếm đoạt và do đó không cấu thành các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Trên thực tế, xác định hành vi chiếm đoạt không phải trường hợp nào cũng đơn giản. Từ việc xác định không đúng hành vi chiếm đoạt có thể dẫn đến xác định sai lầm giữa phạm tội với vi phạm, giữa tội phạm này với tội phạm khác.
Như vậy, chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm [28, tr. Khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng, sử dụng hoặc là mục tiêu của giới tội phạm. Các thành tựu do công nghệ thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó, nên trong thế giới mà công nghệ thông tin đã tạo nên cho con người đã hình thành một khái niệm mới về loại tội phạm - tội phạm về công nghệ thông tin hay còn được biết đến với các tên khác nhau như: tội phạm mạng (cyber crimes), tội phạm tin học hay tội phạm liên quan đến máy tính (computer crimes). Đây là những khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam chúng ta mà còn đối với nhiều nước trên thế giới.
Do vậy, ngay từ việc sử dụng thuật ngữ đến việc đưa ra khái niệm, đặc điểm đến việc xếp những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào bị liệt kê vào danh sách của loại tội phạm này cũng còn có nhiều ý kiến không đồng nhất. Đây hiện được xem là một trong những mối quan ngại của cả cộng đồng thế giới và là một thử thách mới đối với các nhà làm luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật trong việc định ra những quy định phù hợp để có 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể phòng ngừa và trấn áp một cách có hiệu quả loại tội phạm này. Trong nghiên cứu khoa học, đã từng có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT. Nổi bật lên có hai quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất được hiểu trên nghĩa rộng, thì việc phân loại thế nào là tội phạm công nghệ thông tin cần dựa trên vai trò của máy tính trong tội phạm.
Theo quan điểm này thì tội phạm tin học bao gồm những tội phạm có sự liên can, dính líu của máy tính tới tội phạm với ba vai trò: Máy tính là công cụ phạm tội; Máy tính là vật trung gian để cất giấu, lưu trữ những thứ đã chiếm đoạt được. Theo quan điểm này thì rất nhiều các loại tội phạm truyền thống cũng đều bị coi là tội phạm công nghệ thông tin hay tội phạm tin học, đặc biệt là những tội sử dụng máy tính, mạng máy tính làm công cụ, phương tiện phạm tội, ví dụ như tội đánh bạc trên mạng, tội cung cấp các dịch vụ mại dâm trực tuyến, tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy trên mạng.Một trong những khái niệm rộng nhất về tội phạm máy tính thể hiện quan điểm theo nghĩa rộng này được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đưa ra như sau: "Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin là bất cứ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào có liên quan đến việc sử dụng các hiểu biết về công nghệ máy tính trong việc phạm tội, điều tra hoặc xét xử” [30, tr.