Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội phạm trong lĩnh vực lao động theo luật hình sự. Chương 2: Những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội phạm trong lĩnh vực lao động và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm trong lĩnh vực lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG THEO LUẬT HÌNH SƢ̣ VIỆT NAM 1.
Khái niệm , đă ̣c điể m và sự cần thiết quy định các tội phạm trong lĩnh vực lao đô ̣ng theo luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm các tội phạm trong lĩnh vực lao đôṇ g Lao động, theo C.Mác, là hoạt động cơ bản của con người. Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… Tuỳ theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hoá, nghệ thuật,… Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là người lao động. Những người lao động, theo sự phân loại có tính chất truyền thống được chia thành: Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi lao động (tùy theo từng quốc gia) có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định đã được Hiến pháp ghi nhận.
Người ngoài độ tuổi lao động gồm những người chưa đến tuổi lao động, những người đã hết tuổi nghĩa vụ lao động (theo quy định của Hiến pháp) nhưng vẫn tham gia lao động. Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang có nhu cầu và đang tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động, nhất là nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động có vai trò như nhân tố hàng đầu của những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển kinh tế xã hội. Nguồn lao động là phạm trù phản ánh lực lượng quan trọng nhất của nền sản xuất xã hội.
Theo từ điển thống kê: Nguồn lao động xã hội là toàn thể những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động. Bao gồm: những người theo quy định của Nhà nước ở ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế đang tham gia lao động. Như 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, nguồn lao động của xã hội hay của mỗi địa phương, ngành, đơn vị sản xuất… là tổng thể những người lao động ở địa phương, ngành, đơn vị sản xuất… và được xem xét trong những khoảng thời gian nhất định. Sức lao động là khả năng lao động, được biểu hiện trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng của nguồn lao động [58].
Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển trên cơ sở của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp mà ở đó trong một thời kỳ dài các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ lao động được điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, do vậy, vấn đề việc làm, tiền lương, phúc lợi. đều được Nhà nước bao cấp toàn bộ. Nên nhiều người đã từng sống và làm việc trong thời kỳ ấy không lạ lẫm gì với quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và tinh thần cao nhất, phi thị trường, thoát ra ngoài sự trao đổi về vật chất. Từ khi đất nước chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, lao động cũng không thể nằm bên ngoài các quan hệ thị trường.
Dù có coi sức lao động mang những phẩm chất đặc biệt như thế nào đi chăng nữa, thì nó vẫn là một thứ hàng hóa để mua bán theo giá trị của nó trên thị trường, xét trong mối tương quan với hàng hóa khác và ngay cả với chính nó. Về bản chất, quan hệ lao động trong thị trường lao động là quan hệ được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện. Nhưng đây là một loại quan hệ đặc biệt bởi vì nó vừa là quan hệ kinh tế vừa là quan hệ có tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Mặt khác, nó là quan hệ cá nhân nhưng đồng thời lại mang tính tập thể; vừa là quan hệ dân sự vừa là quan hệ mang tính hành chính, chịu sự quản lý.
Do đó, xem xét ở một góc độ nào đó, có thể nói rằng quan hệ lao động trong thị trường lao động là sự tổng hòa của các quan hệ xã hội. Hơn nữa, mô hình kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tất cả những điều đó tạo ra những nét đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng, bởi nó là cơ sở để chúng ta xây dựng thể chế pháp lý và ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực lao động.
Thể hiê ̣n cu ̣ thể hóa điề u đó , Hiế n pháp năm 2013 của Việt Nam đã quy định: 1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế đô ̣ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.
Đồng thời Điều 57 quy đinh ̣ : Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định [53]. Dưới cơ sở các quy đinh ̣ nề n tảng của Hiế n pháp , Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật lao động với tính chất là văn bản trực tiếp quy định về quan hệ lao đô ̣ng. Như căn cứ theo Điều 1, Bộ luật lao động có quy định: “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương và NSDLĐ…” [52].
Vì thế, đặc điểm cơ bản có tính quyết định để nhận diện đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam cũng như là tư cách tham gia quan hệ của các chủ thể và sự phụ thuộc của NLĐ trong quan hệ lao động. Đối tượng điều chỉnh của Luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động (gọi là quan hệ lao động) và các quan hệ khác có liên quan phát sinh trong quá trình sử dụng lao động (quan hệ liên quan đến quan hệ lao động). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên ca ̣nh BLLĐ có tiń h chấ t điề u chin̉ h trực tiế p quan hê ̣ lao đô ̣ng , để đảm bảo cho quan hê ̣ lao đô ̣ng đươ ̣c thực hiê ̣n mô ̣t cách thuâ ̣n lơ ̣i trên thực tế và đảm bảo quyền của người lao động , người sử du ̣ng lao đô ̣ng cũng như quyề n và lơ ̣i ić h của nhà nước trong quan hê ̣ lao đô ̣ng còn có mô ̣t loa ̣t các văn bản khác. Trong đó , nổ i lên là BLHS với tư cách là văn bản quy đinh ̣ về tô ̣i phạm, góp phầ n bảo vê ̣ chế đô ̣ chiń h tri ̣ , chế đô ̣ kinh tế , nề n văn hóa , quố c phòng an ninh , trâ ̣t tự an toàn xã hô ̣i , quyề n lơ ̣i ić h của nhà nước , của tập thể , quyề n lơ ̣i ić h của cá nhân và các trâ ̣t tự khác của pháp luâ ̣t xã hô ̣i chủ nghĩa.
Chính vì vậy , BLHS chiń h là văn bản mang tiń h chấ t bảo vê ̣ cho các quan hê ̣ xã hô ̣i mang tin ́ h chấ t quan tro ̣ng bi ̣hành vi pha ̣m tô ̣i gây thiê ̣t ha ̣ i hoă ̣c đe do ̣a gây thiê ̣t ha ̣i. Do đó , viê ̣c hành vi xâm pha ̣m tới quan hê ̣ lao đô ̣ng, xâm pha ̣m quyề n lơ ̣i ić h của người lao đô ̣ng , người sử du ̣ng lao đô ̣ng , quyề n lơ ̣i ić h của Nhà nước trong liñ h vực lao đô ̣ng ở mức đô ̣ nguy hiể m cao sẽ được quy đinh ̣ trong Bô ̣ luâ ̣t hiǹ h sự và áp dung hiǹ h pha ̣t đố i với những hành vi đó. Tuy nhiên, không phải mo ̣i hành vi vi pha ̣m quy đinh ̣ về lao đô ̣ng , làm ảnh hưởng tới quan hệ lao động đều được quy định trong BLHS và cần áp du ̣ng hình pha ̣t. Mà chỉ có những quan hệ mang tính chất quan trọng , có ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều người như : vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi, cưỡng bức lao động đã và đang đươ ̣c BLHS hiện hành quy định.
Các hành vi này đều có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội , mà trong nhiề u trường hơ ̣p bi ̣các quy đinh ̣ của luâ ̣t quố c tế quy đinh ̣ và bảo vê ̣. Tổng quan một số điều ước quốc tế về quyền của người lao động ở mức độ toàn cầu, quyền của người lao động được biết đến trong pháp luật quốc tế kể từ Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước quốc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 (ICESCR), các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tuyên bố về các quyền lao động cơ bản của ILO tại nơi làm việc năm 1998. Về cơ bản cho đế n hiê ̣n nay chưa nhiề u công trì nh nghiên cứu về tô ̣i phạm trong lĩnh vực lao đô ̣ng, do đó cũng chưa thực sự có ho ̣c giả nào đưa ra khái niệm các tội phạm về lao động .