Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ theo Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thúy (Lớp Luật 20B, Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Lê Thu vào năm 2024.

Về lý do chọn đề tài, tác giả xuất phát từ các định hướng tại Văn kiện Đại hội XI, XII, XIII của Đảng và phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012–2022, nhấn mạnh yêu cầu kiên quyết, kiên trì đấu tranh không ngừng nghỉ ở mọi cấp, mọi ngành. Trong bối cảnh thực tiễn, nhóm tội phạm chức vụ nói chung và Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nói riêng diễn biến phức tạp về quy mô và tính chất, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước lên tới hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự quản lý hành chính và niềm tin xã hội. Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử giai đoạn vừa qua ghi nhận sự thiếu thống nhất trong nhận thức, áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung còn ở mức cao.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các quy định pháp luật hình sự hiện hành về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, phân tích thực trạng xét xử sơ thẩm giai đoạn 2018–2021, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quả phòng ngừa tội phạm.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận và đặc điểm pháp lý liên quan đến Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
  2. Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm và đánh giá quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thông qua các vụ án điển hình.
  3. Đánh giá những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội danh này.
  4. Khảo sát, đánh giá thực tiễn xét xử, chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng xét xử.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định về tội danh theo Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, có đối chiếu so sánh với Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999, cùng thực tiễn áp dụng hình phạt và phân định ranh giới với các tội phạm liên quan.
  • Về thời gian: Tập trung khảo sát số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.
  • Về không gian: Nghiên cứu số liệu xét xử sơ thẩm trên phạm vi cả nước thông qua báo cáo tổng hợp của Tòa án nhân dân Tối cao và các bản án công khai điển hình tại một số địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, tội phạm chức vụ.

Về hệ thống lý luận và văn bản quy phạm pháp luật, tác giả sử dụng các nguồn nền tảng gồm:

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trọng tâm là Điều 356 quy định về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; cùng các điều luật liên quan như Điều 352 (khái niệm tội phạm về chức vụ), Điều 353 (Tội tham ô tài sản), Điều 357 (Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ), Điều 12 và Điều 13 (độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự), Điều 50 (căn cứ quyết định hình phạt).
  • Bộ luật Hình sự năm 1999 (đặc biệt là Điều 281) dùng để so sánh, làm rõ tiến trình hoàn thiện kỹ thuật lập pháp.
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 làm căn cứ đánh giá hoạt động tố tụng, trả hồ sơ, điều tra bổ sung và tạm đình chỉ vụ án.
  • Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (Điều 2 về hoạt động công vụ) và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (Điều 3 về giải thích người có chức vụ, quyền hạn).
  • Các giáo trình, tài liệu chuyên khảo: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm (Quyển 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018); Sách Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm (Tập 5) của ThS. Đinh Văn Quế; cùng các công trình nghiên cứu của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Luận văn thạc sĩ của Tạ Quốc Tuấn (2016) và Ma Kiều Diễm (2019).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để mổ xẻ từng dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và tổng hợp thành bức tranh toàn diện về chế định pháp lý.
  • Phương pháp so sánh: Dùng để chỉ ra điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời phân biệt ranh giới pháp lý giữa Điều 356 với Điều 357 (Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ) và Điều 353 (Tội tham ô tài sản).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý, so sánh số liệu thụ lý, xét xử sơ thẩm, phân loại hình phạt chính, hình phạt bổ sung và tỷ lệ trả hồ sơ vụ án từ năm 2018 đến 2021.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu gồm: Số liệu thống kê chính thức từ Vụ Tổng hợp - Tòa án nhân dân Tối cao về các vụ án thụ lý và xét xử sơ thẩm giai đoạn 2018–2021; dữ liệu từ các bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật (như Bản án số 398/2022/HS-PT của TAND TP. Hà Nội, Bản án số 56/2022/HS-ST của TAND huyện Phù Yên tỉnh Sơn La, Bản án số 22/2021/HSST của TAND TP. Việt Trì tỉnh Phú Thọ); cùng các vụ án điển hình được phản ánh trong thực tiễn như vụ gian lận điểm thi THPT quốc gia năm 2018 tại Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La và vụ án Hadico tại Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

Chương 1 tập trung phân tích hệ thống khái niệm, đặc trưng pháp lý, cấu thành tội phạm và ranh giới định tội danh của Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Khóa luận xác định công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Về cấu thành pháp lý, chương này làm rõ 4 yếu tố:

  • Khách thể: Xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đồng thời xâm phạm uy tín của bộ máy nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tác giả dẫn chứng Bản án số 398/2022/HS-PT của TAND TP. Hà Nội liên quan đến các sai phạm lập khống hồ sơ điều tra đất đai tại Viện nghiên cứu quản lý đất đai làm thất thoát ngân sách để minh chứng cho sự xâm phạm khách thể.
  • Mặt khách quan: Bao gồm hành vi làm trái công vụ dưới dạng hành động phạm tội (làm trái chức trách, quyền hạn được giao như vụ nâng điểm cho 347 thí sinh trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2018) hoặc không hành động phạm tội (không làm hoặc làm không đầy đủ chức trách, nghĩa vụ khi có đủ điều kiện thực hiện, ví dụ cán bộ thuế bỏ qua không thu thuế). Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành vật chất, bao gồm thiệt hại vật chất (được định lượng từ 10.000.000 đồng trở lên) và thiệt hại phi vật chất (uy tín cơ quan, niềm tin nhân dân, trật tự xã hội).
  • Chủ thể: Là chủ thể đặc biệt, đòi hỏi phải có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi luật định và bắt buộc phải là người có chức vụ, quyền hạn thông qua bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc hình thức khác. Tác giả phân tích Bản án số 56/2022/HS-ST của TAND huyện Phù Yên (Sơn La) xử phạt Giám đốc và Kế toán Trung tâm Y tế huyện Phù Yên lập khống chứng từ đề án truyền thông Covid-19 gây thiệt hại 65 triệu đồng.
  • Mặt chủ quan: Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp (nhận thức rõ hành vi nguy hiểm, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra). Động cơ bắt buộc là vụ lợi (lợi ích vật chất hoặc phi vật chất cho bản thân) hoặc động cơ cá nhân khác (vì quan hệ gia đình, nể nang, củng cố địa vị). Nội dung này được minh họa qua vụ án sai phạm thu 44,6 tỷ đồng tại Đại sứ quán Việt Nam ở Malaysia trong vụ "Chuyến bay giải cứu".

Về hình phạt, Điều 356 quy định 3 khung hình phạt chính: Khung cơ bản từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (Khoản 1); Khung tăng nặng thứ nhất từ 05 năm đến 10 năm tù cho trường hợp có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, hoặc thiệt hại tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (Khoản 2); Khung tăng nặng thứ hai từ 10 năm đến 15 năm tù áp dụng khi thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên (Khoản 3). Hình phạt bổ sung gồm cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (Khoản 4).

Đồng thời, chương 1 tiến hành phân định Điều 356 với hai tội danh dễ nhầm lẫn:

  • Với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357): Giống nhau về khách thể, lỗi cố ý và động cơ vụ lợi. Điểm khác là hành vi tại Điều 356 là sử dụng quyền hạn được giao để làm trái công vụ, trong khi Điều 357 là hành vi vượt quá quyền hạn hoặc làm việc không thuộc thẩm quyền của mình. Mức định lượng thiệt hại tài sản khởi điểm ở Khoản 1 Điều 357 là từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (thấp hơn khung của Điều 356).
  • Với Tội tham ô tài sản (Điều 353): Giống nhau về chủ thể đặc biệt và lỗi cố ý. Điểm khác là Điều 353 bắt buộc phải có hành vi chiếm đoạt tài sản do chính chủ thể có trách nhiệm quản lý; trong khi Điều 356 không bắt buộc dấu hiệu chiếm đoạt tài sản mà dấu hiệu bắt buộc là gây thiệt hại tài sản hoặc thiệt hại phi vật chất. Sự phân biệt này được minh họa qua Bản án số 22/2021/HSST của TAND TP. Việt Trì xử phạt nhân viên bưu điện ký giả chữ ký để chiếm đoạt 46,47 triệu đồng tiền trợ cấp thất nghiệp phạm tội Tham ô tài sản.

Chương 2: Thực tiễn xét xử và một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ

Chương 2 phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp qua hệ thống số liệu giai đoạn 2018–2021, chỉ ra các vướng mắc tố tụng và phân tích nguyên nhân.

Thực tiễn xét xử ghi nhận các đặc trưng lớn:

  • Tội phạm chủ yếu được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, có sự câu kết chặt chẽ giữa người có chức vụ quyền hạn cao với cấp dưới hoặc người ngoài xã hội; không tìm thấy vụ án nào phạm tội mang tính chất đơn lẻ.
  • Tỷ lệ giải quyết các vụ án đã thụ lý còn thấp: Năm 2018 đạt 54,08%; năm 2019 đạt 54,45%; năm 2020 giảm xuống 48,69% và năm 2021 đạt 53,15%.
  • Tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung rất cao: Trong giai đoạn nghiên cứu có tới 90 vụ án bị trả hồ sơ cho Viện kiểm sát, chiếm 52,53% tổng số vụ án thụ lý.

Khóa luận phân tích 5 nhóm hạn chế, tồn tại trong thực tiễn:

  1. Đánh giá chứng cứ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án chưa có sự thống nhất, dẫn đến tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung chiếm hơn một nửa số vụ án thụ lý.
  2. Việc nhận diện và xác định "thiệt hại khác" (thiệt hại phi vật chất) đến lợi ích nhà nước, tổ chức, cá nhân còn rất trừu tượng, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể nên nhận thức giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có sự chênh lệch lớn.
  3. Khó khăn trong thu thập chứng cứ và chứng minh hành vi do người chủ mưu thường có trình độ cao, quan hệ rộng, sử dụng phương thức tinh vi và che giấu qua nhiều tầng nấc trung gian, chỉ đạo cấp dưới thực hiện thay vì trực tiếp hành động.
  4. Việc chứng minh động cơ "vụ lợi" gặp cản trở do cơ chế kê khai, công khai minh bạch tài sản của cán bộ, công chức còn thiếu trung thực, thiếu tự giác; quá trình xác minh thiệt hại kéo dài làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án.
  5. Sức ép tâm lý đối với cán bộ tiến hành tố tụng do bị can, bị cáo thường giữ chức vụ cao, có quan hệ rộng; công tác phong tỏa, kê biên tài sản chưa kịp thời dẫn đến việc đối tượng tẩu tán tài sản, tỷ lệ thu hồi tài sản thất thoát cho ngân sách nhà nước đạt thấp; việc áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền còn rất hạn chế. Minh chứng là vụ án Hadico, Viện kiểm sát từng truy tố Phan Minh Nguyệt và Nguyễn Thị Huyền Hảo về Tội tham ô tài sản nhưng sau đó phải thay đổi sang Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ ngay tại phiên tòa do xác định sai dấu hiệu chủ thể quản lý tài sản.

Các nguyên nhân chủ yếu gồm: Trình độ, năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế trước các lĩnh vực chuyên sâu (quản lý đất đai, đầu tư công, xây dựng, tài chính); sự giao thoa phức tạp giữa các tội danh chức vụ (Điều 356, 357, 353); và thủ đoạn phạm tội công nghệ cao ngày càng tinh vi.

Từ thực trạng đó, khóa luận xác định định hướng giải pháp theo 2 nhóm: Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về tội danh (hướng dẫn cụ thể thiệt hại phi vật chất, tăng cường chế tài) và nâng cao hiệu quả thực tiễn xét xử (tăng cường phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực cán bộ tư pháp, chú trọng các biện pháp khẩn cấp phong tỏa tài sản nhằm thu hồi ngân sách).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về hoạt động thụ lý, xét xử và áp dụng hình phạt đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ qua 3 bảng biểu thống kê chính thức từ Vụ Tổng hợp - Tòa án nhân dân Tối cao.

Năm Thụ lý (Số vụ) Thụ lý (Số bị cáo) Xét xử sơ thẩm (Số vụ) Xét xử sơ thẩm (Số bị cáo) Tỷ lệ số vụ đã xét xử / thụ lý (%) Tỷ lệ số bị cáo đã xét xử / thụ lý (%)
2018 98 331 53 159 54,08% 48,03%
2019 101 346 54 129 54,45% 43,06%
2020 115 523 56 254 48,69% 48,56%
2021 111 516 59 256 53,15% 49,61%

Bảng 1: Thống kê số vụ thụ lý và xét xử sơ thẩm về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ giai đoạn 2018 – 2021 (Nguồn: Vụ Tổng hợp, Tòa án nhân dân Tối cao)

Về cơ cấu hình phạt, thống kê trên 798 bị cáo thuộc 172 vụ án được đưa ra xét xử trong giai đoạn 2018–2021 ghi nhận mức độ áp dụng chế tài như sau:

Loại hình phạt Mức hình phạt cụ thể Số bị cáo áp dụng Tỷ lệ phần trăm
Hình phạt chính: Tù có thời hạn Từ 3 năm tù trở xuống 300 37,59%
Từ trên 3 năm đến 7 năm tù 158 19,79%
Từ trên 7 năm đến 15 năm tù 40 6,50%
Hình phạt chính: Không tước tự do Cải tạo không giam giữ 69 23,15% (tính trên 298 bị cáo)
Phạt tiền 3 0,38%
Cảnh cáo 0 0%
Trục xuất 0 0%
Hình phạt bổ sung Cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề 40 5,01%
Phạt tiền 6 0,43%

Bảng 2 & 3: Thống kê áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội giai đoạn 2018–2021 (Nguồn: Vụ Tổng hợp, Tòa án nhân dân Tối cao)

Các kết quả phân tích số liệu cho thấy:

  • Xu hướng thụ lý tội phạm tăng mạnh, đặc biệt từ năm 2020 và 2021 số bị cáo thụ lý đều vượt trên 500 người (năm 2020 là 523 bị cáo, năm 2021 là 516 bị cáo).
  • Hình phạt tù có thời hạn từ 3 năm trở xuống chiếm tỷ trọng cao nhất (37,59%), phản ánh phần lớn các bị cáo được phân hóa vai trò thứ yếu, giúp sức trong các vụ án đồng phạm hoặc tội phạm thuộc nhóm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng.
  • Việc áp dụng hình phạt bổ sung còn rất mờ nhạt: Chỉ có 6 bị cáo bị phạt tiền (0,43%) và 40 bị cáo bị cấm đảm nhiệm chức vụ (5,01%), chưa phát huy tối đa công cụ kinh tế để khắc phục hậu quả tài sản cho ngân sách nhà nước.
  • Tỷ lệ trả hồ sơ cho Viện kiểm sát chiếm tới 52,53% (90 vụ án), phản ánh vướng mắc nghiêm trọng trong khâu thu thập, đánh giá chứng cứ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật hình sự: Cần ban hành văn bản quy định tiêu chí định lượng đối với "thiệt hại khác" (thiệt hại phi vật chất); tăng mức trần hình phạt đối với Khoản 3 Điều 356 (vượt khung 15 năm tù) để tương xứng với các vụ án gây thất thoát hàng trăm tỷ đồng; nâng cao hiệu lực của hình phạt bổ sung bằng tiền.
  • Nâng cao hiệu quả thực tiễn xét xử: Chú trọng áp dụng ngay các biện pháp kê biên, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra để chống tẩu tán tài sản; bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về kinh tế, đất đai, xây dựng cho thẩm phán và kiểm sát viên; bảo đảm tính độc lập, tránh sự can thiệp trong hoạt động xét xử.

Về mặt đóng góp khoa học, so với các công trình trước đây như luận văn của Tạ Quốc Tuấn (2016) hay Ma Kiều Diễm (2019) vốn chỉ mới tiếp cận các điểm mới trên văn bản của Bộ luật Hình sự năm 2015, khóa luận của Nguyễn Thị Thúy đã cập nhật việc áp dụng thực tế của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 với bộ dữ liệu xét xử thực chứng 4 năm liên tục (2018–2021) từ Tòa án nhân dân Tối cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Dữ liệu thực chứng dừng lại ở mốc năm 2021, chưa phản ánh được đầy đủ biến động xét xử của các đại án tham nhũng giai đoạn từ năm 2022 trở lại đây.
  • Khóa luận chủ yếu dựa vào số liệu tổng hợp xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án và một số bản án điểm, chưa đi sâu phân tích toàn diện số liệu ở giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát.

Hướng nghiên cứu tiếp theo mà đề tài gợi mở gồm:

  • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế pháp lý định lượng thiệt hại phi vật chất trong các tội phạm chức vụ.
  • Khảo sát chuyên sâu hiệu quả thu hồi tài sản qua các biện pháp cưỡng chế tư pháp hình sự và so sánh thực tiễn xét xử giai đoạn sau năm 2021.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật học, Quản lý nhà nước tham khảo khi làm khóa luận, luận văn về nhóm tội phạm chức vụ và kỹ thuật định tội danh trong luật hình sự.
  • Cán bộ làm công tác thực tiễn tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) trong việc tham chiếu các tiêu chí phân biệt giữa Điều 356, Điều 357 và Điều 353, cũng như nhận diện nguyên nhân dẫn đến việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống 3 bảng thống kê số liệu xét xử thực tế giai đoạn 2018–2021 và các phân tích so sánh ranh giới cấu thành tội phạm giữa Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với Tội lạm quyền và Tội tham ô tài sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356) và Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357) dựa trên tiêu chí cốt lõi nào?
Tiêu chí cốt lõi nằm ở phương thức hành vi: Điều 356 là hành vi lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái chức năng, nhiệm vụ công tác; còn Điều 357 là hành vi lạm quyền, tức vượt quá phạm vi thẩm quyền được giao hoặc làm việc thuộc thẩm quyền của cấp trên, của bộ phận khác. Về hậu quả tài sản ở khoản 1, Điều 357 quy định mức khởi điểm từ 10 triệu đến dưới 100 triệu đồng, thấp hơn mức từ 10 triệu đến dưới 200 triệu đồng của Điều 356.

2. Tỷ lệ các vụ án bị Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát trong giai đoạn 2018–2021 được ghi nhận là bao nhiêu và do nguyên nhân chính nào?
Theo số liệu trong khóa luận, có 90 vụ án bị trả hồ sơ cho Viện kiểm sát, chiếm 52,53% tổng số vụ án thụ lý. Nguyên nhân chính là do quan điểm đánh giá chứng cứ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án chưa có sự tương đồng, đặc biệt trong việc làm rõ hành vi đồng phạm, chứng minh động cơ vụ lợi và xác định thiệt hại phi vật chất.

3. Mức hình phạt tù có thời hạn nào được áp dụng phổ biến nhất đối với tội danh này theo thống kê giai đoạn 2018–2021?
Hình phạt tù từ 3 năm trở xuống là mức án được áp dụng phổ biến nhất, với 300 bị cáo (chiếm 37,59% trong tổng số 798 bị cáo bị đưa ra xét xử thuộc 172 vụ án). Khung hình phạt từ trên 3 năm đến 7 năm có 158 bị cáo (19,79%), và khung từ trên 7 năm đến 15 năm chỉ có 40 bị cáo (6,50%).

4. Khóa luận chỉ ra điểm mới quan trọng nào của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 về Điều 356?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tách bạch rõ ràng giữa thiệt hại về tài sản (định lượng cụ thể từ 10.000.000 đồng trở lên thay vì định tính chung chung) và thiệt hại phi vật chất; thay thế thuật ngữ "công dân" bằng "cá nhân" để mở rộng diện bảo vệ sang người nước ngoài và người không quốc tịch; quy định rõ tình tiết "phạm tội nhiều lần" là từ 02 lần trở lên; và nâng mức phạt tiền bổ sung từ 3 triệu đồng lên mức từ 10 triệu đến 100 triệu đồng.

5. Vì sao tội phạm tại Điều 356 không bị coi là cấu thành tội phạm nếu tài sản thiệt hại dưới 10 triệu đồng và không có thiệt hại phi vật chất?
Căn cứ Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có cấu thành vật chất, quy định định lượng thiệt hại tài sản khởi điểm từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc phải gây thiệt hại khác đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu thiệt hại tài sản dưới 10.000.000 đồng đồng thời không có thiệt hại phi vật chất nào khác xảy ra thì hành vi không thỏa mãn dấu hiệu hậu quả bắt buộc của tội phạm này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy là công trình nghiên cứu hệ thống về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tác phẩm đã phân tích toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ ranh giới pháp lý với các tội danh lạm quyền và tham ô tài sản, đồng thời phản ánh chân thực bức tranh xét xử sơ thẩm giai đoạn 2018–2021 qua các số liệu thống kê của Tòa án nhân dân Tối cao. Qua việc chỉ ra các rào cản thực tiễn như tỷ lệ trả hồ sơ cao (52,53%) và vướng mắc trong định lượng thiệt hại phi vật chất, công trình đề xuất các nhóm giải pháp mang tính thực chất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xét xử và hoàn thiện thể chế pháp lý hình sự tại Việt Nam.