chương I về các tội xâm phạm an ninh quốc gia thể hiện tầm quan trọng của tính mạng, sức khỏe con người.12 Ở giai đoạn trước tuy hành vi giết con mới đẻ được đề cập nhưng chỉ là đề cập trong bản hướng dẫn nội bộ dùng trong Tòa án chứ không được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Khi BLHS năm 1985 ban hành, lần đầu tiên hành vi giết, vứt bỏ con mới đẻ của người mẹ được đề cập trong văn bản quy phạm pháp luật, đây là bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự. Mặc dù nhà làm luật có đề cập đến hành vi giết, vứt bỏ con mới đẻ trong BLHS năm 1985 nhưng không quy định riêng tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ là tội phạm độc lập mà chỉ được coi là một trường hợp giết người đặc biệt. Theo đó, hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới được xác định là tội giết người tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 thuộc một trong các tình tiết định khung giảm nhẹ của tội giết người.
Tội giết người tại Điều 101 BLHS năm 1985 quy định như sau: “Điều 101: Tội giết người. 1- Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình; … 2- Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định ở khoản 1 Điều này hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. … 4- Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.” 12 Minh Hùng, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 - Phần Tội phạm cụ thể)”, https://drive.com/uc?id=1Wx0ku45f2trDIjYGMPAIEI0nWsET83Cn, truy cập ngày 20/03/2023 14 Như vậy, một chủ thể có hành vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn tới hậu quả đứa trẻ chết sẽ bị kết tội giết người với tình tiết định khung giảm nhẹ. Điểm đột phá của BLHS năm 1985 so với các nguồn luật hình sự trước đây là có quy định hành vi vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết.
Vì BLHS năm 1985 là Bộ luật Hình sự đầu tiên được các nhà làm luật xây dựng nên với kinh nghiệm non nớt đã dẫn tới nhiều sự thiếu sót trong quy định về các tội phạm. Cụ thể, trong khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 tồn tại nhiều điểm chưa rõ ràng cho nên để tiện trong việc xét xử tội danh thì Hội đồng Thẩm phán đã đưa ra Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1985. Từ sự hướng dẫn của Nghị quyết 04, cơ quan tư pháp sẽ xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm để đưa ra phán quyết phù hợp cho người phạm tội. Cụ thể cần lưu ý một số điểm sau: Thứ nhất về khách thể, quan hệ xã hội bị xâm phạm là tính mạng của đứa trẻ mới đẻ.
Đối tượng phạm tội của điều luật này là con mới đẻ và theo Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 phải là đứa trẻ mới sinh ra trong bảy ngày trở lại. Khi đứa trẻ mới sinh vượt quá 7 ngày tuổi, Tòa án không còn xét Tội giết người có cấu thành giảm nhẹ đặc biệt tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 mà phải xét Tội giết người tại khoản 1 Điều 101 BLHS năm 1985. Thứ hai về mặt khách quan. Đầu tiên nói đến hành vi khách quan của tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 cũng tương tự với hành vi khách quan của tội giết người tại khoản 1 Điều 101 BLHS năm 1985 đều là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái phép, cụ thể là cái chết của đứa trẻ mới sinh trong 7 ngày tuổi.
Hành vi tước đoạt tính mạng được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của người khác.13 Cho nên hành vi có khả năng gây ra cái chết của đứa trẻ có thể là hành động như đâm, chém, ném đứa trẻ từ trên cao xuống đất… Hành vi khách quan cũng có thể là không hành động đó là những trường hợp người mẹ có nghĩa vụ phải làm một số việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng cho đứa con nhưng người mẹ đã không hành động dẫn tới cái chết cho đứa con, ví dụ như không cho con bú, không chăm con khi ốm. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 tồn tại ở hai dạng hành vi là hành vi giết con mới đẻ (bóp cổ, thắt cổ, dìm xuống nước, đâm chết…) và hành vi vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến đứa trẻ chết (vứt bỏ con ở sông, rừng sâu, nhà thờ, chùa…). Do tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 là một trường hợp của tội giết người mà tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất nên hậu quả cái chết của đứa trẻ có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với hành vi giết con mới đẻ thì hậu quả con chết giúp xác định tội phạm đã được thực hiện ở giai đoạn nào, từ đó Phạm Văn Đạt (2012), Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Trường 13 Đại học Cần Thơ, tr.
10 15 giúp Tòa án xác định mức phạt cho người phạm tội. Đối với hành vi vứt bỏ con mới đẻ thì hậu quả đứa con chết có ý nghĩa xác định người mẹ có phạm tội hay không. Sau khi bị vứt bỏ đứa con chết thì người mẹ sẽ phạm tội tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985, ngược lại, đứa con sau khi bị vứt bỏ vẫn còn sống thì người mẹ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Về mối quan hệ nhân quả, hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hậu quả người con chết.
Quan trọng hơn, pháp luật hình sự quy định rõ ràng về hoàn cảnh phạm tội của khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 là dấu hiệu định tội. Người mẹ phải rơi vào hoàn cảnh “chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (như: khiếp sợ trước dư luận chê bai về việc mang thai và đẻ con ngoài giá thú, hoặc trước dư luận khắc nghiệt của nhà chồng cho đẻ con gái là tai họa v.v…) hoặc bị hoàn cảnh khác quan đặc biệt chi phối (như: đứa trẻ sinh ra có dị dạng…)”.14 Đây là điều kiện tiên quyết để nhà làm luật có sự khoan hồng cho hành vi của người mẹ. Bởi lẽ, không có bất kỳ người mẹ nào tự nhiên có hành động gây bất lợi cho đứa con mình tự sinh ra. Khi người mẹ sinh ra đứa bé mà được sự chăm sóc, quan tâm từ các mối quan hệ xung quanh, không có bất kỳ yếu tố khách quan hay chủ quan nào làm người mẹ cảm thấy đứa trẻ gây bất lợi cho mình thì đương nhiên đứa trẻ sinh ra không bị tước đoạt tính mạng hay bị vứt bỏ.
Ngược lại, chỉ khi có những yếu tố đánh vào tâm lý người mẹ như tư tưởng lạc hậu hay bị hoàn cảnh khác quan đặc biệt chi phối thì hành vi sai trái của người mẹ mới thực hiện. Thứ ba về chủ thể thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ là người mẹ sinh ra đứa trẻ đó và không phải người mẹ do nhận nuôi. Chủ thể khác như cha ruột, anh chị, chú bác… những người trong gia đình thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ đứa trẻ trong vòng 7 ngày tuổi thì cũng không xác lập tội tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985 mà xác lập tội giết người tại Khoản 1 Điều 101 BLHS năm 1985. Thứ tư về mặt chủ quan của tội giết hoặc vứt bỏ đứa trẻ tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985.
Hành vi giết hoặc vứt bỏ đứa trẻ mới sinh trong 7 ngày tuổi được thực hiện với lỗi cố ý. Vì hành vi giết con mới đẻ và hành vi vứt bỏ con mới đẻ dẫn tới đứa trẻ chết là trường hợp đặc biệt của tội giết người nên người phạm tội có thể thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Thứ năm về hình phạt dành cho tội giết hoặc vứt bỏ đứa trẻ tại khoản 4 Điều 101 BLHS năm 1985. Nhìn sự tương phản về hình phạt của tội giết người và tội giết con mới đẻ trong cùng một Điều 101 BLHS năm 1985, trong khi mức phạt nặng nhất của hành vi giết người cơ bản là phạt tù có thời hạn 15 năm còn với hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ gây ra cái chết của đứa con mới đẻ trong 7 ngày tuổi lại chỉ là phạt tù có thời hạn 2 năm nếu người mẹ nào do “ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn phần các tội phạm của 14 Bộ luật hình sự năm 1985 16 cảnh khách quan đặc biệt”.
Chính sách của nhà làm luật khi dành sự khoan hồng cho đối tượng này đương nhiên là có điểm hợp lý với quan điểm nhân đạo, nhân văn của nhà nước nhưng cũng có điểm chưa hợp lý khi xét xử bị cáo với tội giết người chứ không phải tội giết con mới đẻ hay vứt bỏ con mới đẻ do chưa cá thể hóa hai hành vi này với hành vi giết người. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ Trên thực tế, một người phụ nữ khi có hành vi giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết sẽ bị phán tội giết người theo như BLHS năm 1985 thì không thể hiện đầy đủ bản chất của tội phạm. Vì Toà án vẫn phải kết án người mẹ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, nhưng chỉ chịu phạt tù có thời hạn 2 năm tù là cao nhất, chưa kể về hậu quả pháp lý và xã hội đối với người phạm tội rất nặng nề, chẳng hạn người ngoài sẽ đánh giá người mẹ là kẻ sát nhân dù thực chất người mẹ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố mới có hành động đó và sẽ mang danh “giết người” suốt đời ảnh hưởng tới cuộc sống sau này của họ.