Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia nhằm giữ vững niềm tin của xã hội đối với hệ thống văn bằng, chứng chỉ GDNN của quốc gia đó.
Bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp ở nhiều nước phát triển trên thế giới và trong khu vực như Úc, Mỹ, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Trung quốc, Singapore từ lâu họ đã rất chú trọng. Chẳng hạn như hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp của Úc được thực hiện chặt chẽ và thống nhất ngay từ khâu cấp phép thành lập các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho đến việc giám sát hoạt động của các cơ sở này cũng như việc kiểm định chất lượng các chương trình/ khóa đào tạo nghề. Khác với hệ thống đảm bảo chất lượng của Mỹ, trong hệ thống đảm bảo chất lượng của Úc tồn tại hai hình thức thẩm định chất lượng (audit) và kiểm định chất lượng (accreditation). Việc thẩm định được thực hiện đối với cơ sở đào tạo nghề khi đăng ký thành lập, sau khi đã hoạt động được 12 tháng và khi xin gia hạn hoạt động cứ mỗi 5 năm [dẫn theo 5].
8 Những nghiên cứu về hoạt động bảo đảm chất lượng cũng được nhận được nhiều nghiên cứu khác nhau của các học giả. Cedefop trong tác phẩm “Bảo đảm chất lượng trong giáo dục nghề nghiệp: Vai trò của việc công nhận các cơ sở VET” đã đưa ra khung tham chiếu BĐCL của Châu Âu đối với cấp cơ sở giáo dục và cấp hệ thống. Khung tham chiếu BĐCL của Châu Âu bao gồm, chu trình bảo đảm và cải tiến chất lượng (lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá và rà soát, điều chỉnh) dựa trên việc lựa chọn các tiêu chí chất lượng [39]. Idialu, Ambrose Alli University, Nigeria (2013).
Bảo đảm chất lượng trong giáo dục nghề, phân tích khái niệm BĐCL trong giáo dục nghề nghiệp, chỉ ra các thông số BĐCL trong giáo dục nghề nghiệp như: chất lượng giáo viên, kiểm định chương trình, kiểm tra, giám sát, đánh giá; Các yếu tố cản trở đến BĐCL. Các yếu tố có thể BĐCL trong giáo dục nghề nghiệp [40]. Andrea BHRan và Mike Coles , hướng dẫn về bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn TVET ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương nghiên cứu thực hiện từ các nhà nghiên cứu và đại diện nhiều quốc gia thuộc châu Á Thái Bình Dương. Nghiên cứu đưa ra mười ba nguyên tắc chính về BĐCL và phân tích các nguyên tắc này [38].
Tại Việt Nam để thực hiện được mục tiêu đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN. Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn đến phát triển giáo dục, phát triển GDNN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, đã ban hành nhiều văn bản về lĩnh vực GDNN. Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định trách nhiệm của cơ sở GDNN là “cơ sở GDNN tự chủ trong các hoạt động thuộc các lĩnh vực Nhà trường và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng đào tạo theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm giải trình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người học và xã hội về Nhà trường, quản lý hoạt động và chất lượng đào tạo của mình” [34]. Nghị định số 48/NĐ-CP ngày 15/05/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo 9 dục nghề nghiệp có quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương “quy định về xây dựng hệ thống BĐCL trong cơ sở GDNN” (khoản 14, điều 4) [11].
Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/05/2012 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có yêu cầu “các cơ sở dạy nghề phải chịu trách nhiệm BĐCL đào tạo của mình”[8]. Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/05/2014 về phê duyệt Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020, về các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện đề án có nội dung: “Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo ở các trường nghề được lựa chọn” [10]. Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, mục tiêu hội nhập Quốc tế về giáo dục nghề nghiệp có giải pháp là “Xây dựng, phát triển hệ thống BĐCL đào tạo nghề cho các cơ sở đào tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế” [12]. Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg ngày 16/07/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu Nhà trường của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong đó có nhiệm vụ “Hướng dẫn và kiểm tra việc BĐCL dạy nghề, việc tự kiểm định chất lượng dạy nghề của các cơ sở dạy nghề” [9].
Thông tư số 15/2017/TT- BLĐTBXH ngày 08 tháng 06 năm 2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp [2.]; Thông tư số 28/2017/TT- BLĐTBXH ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp [3]. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thực hiện tại Việt Nam. Các nghiên cứu này tập trung vào các chủ đề chính như: Xây dựng hệ thống BĐCL nội bộ, thực hiện hoạt động tự đánh giá, thực 10 hiện hoạt động cải tiến chất lượng. Có thể kể đến các nghiên cứu về BĐCL theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở GDNN tiêu biểu sau: Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2018) với nghiên cứu về “Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp”.
Tác giả đã đề xuất một mô hình hệ thống quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp phù hợp với đặc thù của cơ sở GDNN Việt Nam. Mô hình này bao gồm các quy trình, thủ tục để thực hiện các hoạt động BĐCL như tự đánh giá, đánh giá ngoài, cải tiến chất lượng [21]. Tác giả Phạm Thị Thanh Tâm (2020) với nghiên cứu “Thực trạng thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động tự đánh giá được thực hiện chưa hiệu quả do một số yếu tố như thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu kinh nghiệm và thiếu nguồn lực [35].
Tác giả Nguyễn Văn Toàn (2021) với nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả hoạt động đánh giá ngoài chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở thành phố Hà Nội”. Nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động đánh giá ngoài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, tuy nhiên cần được thực hiện thường xuyên hơn và có hiệu quả hơn [36]. Tác giả Khổng Hữu Lực, Phạm Vũ Quốc Bình (2016), với nghiên cứu về “Đảm bảo chất lượng đào tạo tại các cơ sở dạy nghề trong bối cảnh hiện nay”. Nghiên cứu đã đưa ra những khái quát về mục đích của hoạt động đảm bảo chất lượng trong đào tạo nghề, các thành tố cơ bản của đảm bảo chất lượng trong doanh nghiệp hiện nay, vai trò của đảm bảo chất lượng về việc xây dựng niềm tin của xã hội đối với công tác doanh nghiệp trong gian đoạn hiện nay, một số biện pháp nâng cao hoạt động đảm bảo chất lượng doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay [28].
11 Tác giả Lê Thị Thu Hằng (2022) với nghiên cứu “Đề xuất mô hình cải tiến chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo nguyên tắc PDCA tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp”. Mô hình này bao gồm các bước như xác định vấn đề, phân tích nguyên nhân, lập kế hoạch cải tiến, thực hiện kế hoạch, kiểm tra kết quả và điều chỉnh kế hoạch [20]. Như vậy, có khá nhiều quy định và những nghiên cứu về bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Đây chính là những điểm tựa quan trọng luận văn kế thừa và triển khai nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến quản lý chất lượng trong giáo dục, trong đó có đề cập đến hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục như: Tác giả Nguyễn Đức Chính với công trình nghiên cứu về “Kiểm định chất lượng giáo dục đại học”[14] và “Quản lý chất lượng trong giáo dục” [15]. Tác giả Nguyễn Hữu Châu với công trình “Chất lượng giáo dục, những vấn đề lý luận và thực tiễn” [6]. Tác giả Nguyễn Tiến Hùng với công trình “Quản lý chất lượng trong giáo dục” [22], Tác giả Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Quý Thanh với công trình: “Giáo dục đại học, đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng” [30]. Tác giả Nguyễn Minh Đường với nghiên cứu về “Quản lý chất lượng đào tạo và chất lượng nhà trường theo mô hình hiện đại” [19].Tác giả Nguyễn Hữu Cương với công trình “Phân biệt 3 mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: Kiểm định chất lượng, đánh giá chất lượng và kiểm toán chất lượng”[15].
Nghiên cứu về quản lý hoạt động bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục nghề nghiệp được thể hiện trong các công trình là các bài báo, các đề tài luận án, luận văn.