Tổng quan nghiên cứu

Quyền sống là quyền con người thiêng liêng, bất khả xâm phạm và được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia tối thượng bảo hộ. Tại Việt Nam, Điều 19 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ mọi người đều có quyền sống và tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng con người, đặc biệt là nhóm hành vi xâm hại trẻ sơ sinh, đã diễn biến vô cùng phức tạp trong những năm qua. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, chỉ riêng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, các cơ quan tố tụng trên toàn quốc đã thụ lý 15 vụ án với 22 bị cáo và đưa ra xét xử 11 vụ với 13 bị cáo về tội giết con mới đẻ. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp bách phải rà soát, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật hình sự về tội danh này.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các dấu hiệu cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử tội giết con mới đẻ theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Điểm nghẽn lớn nhất trong thực tiễn áp dụng là quy định giới hạn đối tượng tác động chỉ trong vòng 7 ngày tuổi (tương đương 168 giờ) và quy định hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc. Khi đứa trẻ may mắn được cứu sống ngoài ý muốn chủ quan của người mẹ, hành vi vứt bỏ trẻ sơ sinh lại không thể xử lý hình sự theo Điều 94, tạo ra khoảng trống pháp lý nghiêm trọng.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2010 - 2014 trên phạm vi cả nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm lập pháp quốc tế để đề xuất các giải pháp hoàn thiện Bộ luật Hình sự. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ trọn vẹn 100% quyền sống của trẻ em theo tinh thần Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam làm nền tảng cốt lõi để phân tích hành vi giết con mới đẻ qua 4 yếu tố cấu thành:

  • Khách thể của tội phạm: Xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người, cụ thể là tính mạng của đứa trẻ sơ sinh từ khi chào đời đến hết 7 ngày tuổi.
  • Đối tượng tác động: Trẻ sơ sinh còn sống trong phạm vi 7 ngày tuổi do chính người mẹ sinh ra.
  • Mặt khách quan: Hành vi tước đoạt tính mạng trẻ thông qua hành động (bóp cổ, dìm nước, vứt bỏ nơi nguy hiểm) hoặc không hành động (không cho bú, bỏ đói), trong đó mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả tử vong là bắt buộc.
  • Chủ thể của tội phạm: Chủ thể đặc biệt, phải là người mẹ đẻ có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp), trong trạng thái tâm sinh lý bị xáo trộn mạnh do tác động của tư tưởng phong kiến lạc hậu hoặc hoàn cảnh khách quan đặc biệt khó khăn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quyền con người quốc tế dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 6 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR) và Điều 6, Điều 24 Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em năm 1989 (CRC). Các khái niệm then chốt như "con mới đẻ", "tư tưởng lạc hậu", "hoàn cảnh khách quan đặc biệt" và "cấu thành giảm nhẹ đặc biệt" được chuẩn hóa dựa trên Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp là toàn bộ 15 vụ án (gồm 22 bị can, bị cáo) được thụ lý và 11 vụ án xét xử sơ thẩm, phúc thẩm tại Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% các vụ việc được đưa vào thống kê tư pháp chính thức trong giai đoạn 5 năm này.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling) được áp dụng nhằm thu thập toàn diện các bản án, quyết định giám đốc thẩm và báo cáo tổng kết ngành để loại trừ sai số chọn mẫu. Về mặt phân tích, tác giả kết hợp 4 phương pháp chính: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (dogmatic legal analysis) để mổ xẻ câu chữ điều luật; phương pháp lịch sử lập pháp để đánh giá tiến trình phát triển từ giai đoạn 1945, Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Bộ luật Hình sự năm 1999; phương pháp so sánh luật học đối chiếu với pháp luật của 4 quốc gia (Thụy Điển, Liên bang Nga, Canada, Nhật Bản); và phương pháp thống kê xã hội học pháp luật. Việc lựa chọn các phương pháp này bảo đảm tính khách quan khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận lập pháp và thực tiễn xét xử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Thứ nhất, về quy mô và diễn biến tội phạm: Trong giai đoạn 2010 - 2014, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 15 vụ án với 22 bị cáo và đưa ra xét xử 11 vụ với 13 bị cáo, đạt tỷ lệ xét xử 73,3%. Số lượng các vụ việc có chiều hướng gia tăng liên tục từ năm 2012 đến năm 2014 (tăng trung bình khoảng 20% mỗi năm), tính chất hành vi ngày càng nguy hiểm khi nhiều đối tượng vứt bỏ con tại các khu vực hoang vắng, thùng rác hoặc sông suối.
  • Thứ hai, về đặc điểm nhân thân người phạm tội: 100% đối tượng phạm tội đều là phụ nữ có độ tuổi đời rất trẻ (từ 16 đến dưới 25 tuổi). Trong đó, trên 85% trường hợp là phụ nữ chưa kết hôn, sinh con ngoài giá thú, có trình độ học vấn phổ thông, xuất thân từ vùng nông thôn ra đô thị làm thuê hoặc là học sinh, sinh viên thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản.
  • Thứ ba, khoảng trống pháp lý nghiêm trọng về cấu thành tội phạm: Do Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc, thực tiễn ghi nhận khoảng 30% đến 40% các vụ việc người mẹ cố ý vứt bỏ con nhưng đứa trẻ may mắn được nhân dân cứu sống kịp thời thì cơ quan chức năng không thể xử lý hình sự người mẹ theo Điều 94, tạo ra sự bất bình đẳng trong xử lý tội phạm.
  • Thứ tư, sự chênh lệch lớn về chính sách hình phạt so với chuẩn mực quốc tế: Mức phạt quy định tại Điều 94 (cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm) là quá nhẹ so với mức hình phạt tại Thụy Điển (tù đến 6 năm theo Điều 3 Chương 4), Liên bang Nga (tù đến 5 năm theo Điều 106) và Canada (tù đến 6 năm theo Điều 3 Chương 3).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa và yêu cầu trừng trị, răn đe tội phạm. Dữ liệu thực tiễn được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện đà tăng của các vụ án thụ lý từ 2010 đến 2014 và bảng tổng hợp so sánh mức chế tài giữa Việt Nam và 4 quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội không còn nằm ở tư tưởng trọng nam khinh nữ phong kiến như trước đây, mà phần lớn xuất phát từ khủng hoảng tâm lý hậu sản, áp lực kỳ thị xã hội khi sinh con ngoài giá thú và sự bế tắc về kinh tế.

So với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chỉ tiếp cận ở góc độ lý luận đơn thuần, nghiên cứu này đã chỉ rõ sự cần thiết phải sửa đổi cấu thành tội phạm và nâng mức chế tài hình sự để tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Hình sự: Đề nghị Quốc hội và Bộ Tư pháp điều chỉnh cấu thành tội phạm trong dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi theo hướng phân hóa rõ hai hành vi: hành vi giết con mới đẻ áp dụng mức phạt tù từ 2 năm đến 5 năm; hành vi vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết áp dụng mức phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; đồng thời bổ sung quy định xử lý đối với trường hợp vứt bỏ con chưa dẫn đến hậu quả chết người với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Mục tiêu hoàn thiện 100% quy phạm định tội, thực hiện trong giai đoạn 2015 - 2016.
  • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 nhằm làm rõ khái niệm "con mới đẻ" là trẻ sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi (168 giờ), hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định "tình trạng tâm sinh lý bị rối loạn" và "hoàn cảnh khách quan đặc biệt" để giảm thiểu 100% các sai sót định tội danh giữa Điều 94 và Điều 93. Thời gian hoàn thành trong vòng 6 tháng kể từ khi luật mới có hiệu lực.
  • Đẩy mạnh giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trung ương Đoàn triển khai chương trình giáo dục giới tính bắt buộc tại 100% các trường trung học phổ thông, trường nghề và đại học; phối hợp Tổng Liên đoàn Lao động tuyên truyền tại các khu công nghiệp nhằm mục tiêu kéo giảm 50% tình trạng mang thai ngoài ý muốn ở lứa tuổi thanh thiếu niên trong vòng 3 năm.
  • Xây dựng hệ thống bảo trợ xã hội và tiếp nhận trẻ sơ sinh: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì thiết lập đường dây nóng hỗ trợ bà mẹ đơn thân 24/7 và thí điểm mô hình "hộp tiếp nhận trẻ an toàn" tại các bệnh viện công lập tuyến huyện trở lên, bảo đảm cứu sống và chăm sóc y tế cho 100% trẻ sơ sinh bị bỏ rơi từ năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Cung cấp hệ thống tiêu chí định tội danh rõ ràng, giúp phân biệt chuẩn xác tội giết con mới đẻ với tội giết người (Điều 93) và tội vô ý làm chết người (Điều 98), ngăn ngừa oan sai và bỏ lọt tội phạm trong quá trình giải quyết án.
  • Các nhà làm luật và chuyên gia xây dựng chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học, số liệu thực tiễn 5 năm và kinh nghiệm lập pháp quốc tế để hoàn thiện Điều 124 trong dự thảo Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên khảo chuyên sâu về lý luận cấu thành giảm nhẹ đặc biệt và chế định bảo vệ quyền con người trong luật hình sự.
  • Cán bộ Hội Phụ nữ và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về nguyên nhân tâm lý - xã hội của tội phạm, làm căn cứ xây dựng các chương trình tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và cứu trợ phụ nữ đơn thân có hoàn cảnh khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

  • Con mới đẻ được xác định trong phạm vi thời gian bao lâu theo luật hình sự Việt Nam? Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, con mới đẻ được xác định chính xác là đứa trẻ sinh ra còn sống trong vòng 7 ngày tuổi (tương đương 168 giờ). Mọi hành vi tước đoạt tính mạng đứa trẻ từ ngày thứ 8 trở đi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người thông thường theo Điều 93 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù.

  • Trường hợp người mẹ vứt bỏ con nhưng đứa trẻ may mắn được cứu sống thì có bị xử lý theo Điều 94 không? Theo quy định của Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999, tội danh này có cấu thành vật chất, nghĩa là hậu quả đứa trẻ chết là dấu hiệu định tội bắt buộc. Do đó, nếu đứa trẻ được cứu sống kịp thời, người mẹ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết con mới đẻ. Đây chính là khoảng trống pháp lý lớn được luận văn chỉ ra và đề xuất bổ sung chế tài xử lý tương xứng.

  • Tại sao khung hình phạt đối với tội giết con mới đẻ lại nhẹ hơn rất nhiều so với tội giết người? Quy định hình phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù thể hiện sâu sắc tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Người phụ nữ sau sinh trải qua biến đổi tâm sinh lý vô cùng phức tạp, khả năng nhận thức và kiềm chế bị suy giảm nghiêm trọng dưới áp lực túng quẫn hoặc sự kỳ thị của xã hội, do đó họ vừa là người phạm tội vừa là nạn nhân của hoàn cảnh xã hội éo le.

  • Người thân trong gia đình giúp sức hoặc xúi giục người mẹ giết con mới đẻ thì phạm tội gì? Người thân không phải là chủ thể đặc biệt (người mẹ trực tiếp sinh con trong vòng 7 ngày tuổi) nên không được áp dụng cấu thành giảm nhẹ theo Điều 94. Theo nguyên tắc đồng phạm trong khoa học luật hình sự, những đối tượng có hành vi xúi giục, giúp sức sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người theo Điều 93 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.

  • Kinh nghiệm quốc tế xử lý tội giết con mới đẻ có điểm gì khác biệt so với Việt Nam? Pháp luật Thụy Điển (Điều 3 Chương 4) phạt tù đến 6 năm đối với người mẹ giết con do rối loạn tâm thần; Liên bang Nga (Điều 106) phạt tù đến 5 năm và bao quát cả hành vi giết con trong lúc sinh; Canada (Điều 3 Chương 3) áp dụng hình phạt tù đến 6 năm. Mức chế tài của các quốc gia này đều nghiêm khắc hơn mức 2 năm tù của Việt Nam.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cấu thành tội giết con mới đẻ, làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa quy định của luật hình sự Việt Nam với các chuẩn mực bảo vệ quyền sống của trẻ em theo Công ước CRC năm 1989 và Hiến pháp năm 2013.
  • Phân tích sâu sắc số liệu thực tiễn giai đoạn 2010 - 2014 với 15 vụ án thụ lý và 11 vụ đưa ra xét xử sơ thẩm trên toàn quốc, chỉ rõ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình định tội danh.
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp từ 4 hệ thống pháp luật phát triển (Thụy Điển, Liên bang Nga, Canada, Nhật Bản) nhằm tạo luận cứ khoa học vững chắc cho việc sửa đổi pháp luật trong nước.
  • Đề xuất phương án sửa đổi cấu thành tội phạm và nâng mức hình phạt tại Điều 124 trong dự thảo Bộ luật Hình sự năm 2015, khắc phục triệt để tình trạng bỏ lọt hành vi vứt bỏ trẻ sơ sinh được cứu sống.
  • Thiết lập hệ thống giải pháp phòng ngừa xã hội mang tính liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện tư pháp hình sự với mạng lưới an sinh xã hội và giáo dục sức khỏe sinh sản cộng đồng trong giai đoạn 2015 - 2020.

Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao dành cho các nhà nghiên cứu, cán bộ tư pháp và các cơ quan hoạch định chính sách. Độc giả quan tâm có thể khai thác các luận điểm và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và thực thi pháp luật.