Chương 1. Những vấn đề chung về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong luật hình sự Việt Nam Chương 2. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo quy định của BLHS 2015 và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƢỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe ngƣời khác trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 1. Khái niệm về tội phạm 1. Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác Sức khỏe là tài sản vô giá của mỗi con người.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sức khỏe. Theo cách hiểu thông thường, sức khỏe được hiểu là tình trạng không có bệnh tật hoặc không có thương tật. Xâm phạm sức khỏe con người được hiểu là thông qua sự tác động làm cho người đó mất đi một phần hay toàn bộ sức lực có sẵn của chính người đó làm họ khó khăn trong cử động, hoạt động so với trước khi họ bị hành vi xâm hại tác động tới. Trong đó, hành vi gây thương tích cho người khác được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người, làm cho con người có những thương tích nhất định như: vết bỏng, mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay, cánh tay, bàn chân,.
để lại trạng thái bất thường. Như vậy, có thể hiểu “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác làm cho người đó mất đi một phần 7 hoặc toàn bộ sức lực vốn có của họ được coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự. Ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong luật hình sự Việt Nam Kế thừa quy định từ Điều 104 BLHS 1999, BLHS 2015 vẫn duy trì tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội danh độc lập tại Điều 134 BLHS 2015 đây là một biểu hiện cụ thể của việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người được ghi nhận tại Hiến pháp 2013. Thứ nhất, Việc quy định cụ thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong luật hình sự thể hiện quyết tâm bảo vệ sức khỏe của con người một cách toàn diện triệt để.
Sức khỏe là vốn quý giá của con người, có câu nói: “Người có sức khỏe có một trăm ước muốn, người không có sức khỏe chỉ có 1 ước muốn duy nhất: đó là sức khỏe” hay nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Bàn tay ta làm nên tất cả; Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” để nói lên tầm quan trọng của sức khỏe. Cuộc sống con người có được khỏe mạnh, thành công hay không phụ thuộc vào chính sức khỏe, do đó, sức khỏe của mỗi con người là bất khả xâm phạm, không ai có quyền gây tổn hại, gây thương tích cho thân thể của người khác trái pháp luật. Việc BLHS quy định tội danh về việc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cần thiết góp phần bảo vệ một cách triệt để quyền con người. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác.
Bộ luật hình sự giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người 8 khác nói riêng, bởi vì chỉ văn bản này mới quy định hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội phạm và hình phạt có thể áp dụng đối với người đã gây ra hành vi đó cao nhất có thể lên tới tù chung thân. Việc Nhà nước quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội là nhân danh ý chí của nhân dân, là sự thể hiện thái độ của nhân dân (thông qua Nhà nước đối với tội phạm). Quy phạm pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vừa có tính chất cấm chỉ, vừa có tính chất bắt buộc. Quy phạm này, một mặt cấm người ta không được thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng sự răn đe áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
Mặt khác, quy phạm pháp luật hình sự này cũng buộc các cơ quan có trách nhiệm khi phát hiện có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì phải điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm minh, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Thứ ba, Vì thế bảo vệ con người tạo dựng một xã hội trong sạch và lành mạnh cho sự phát triển của con người là nhiệm vụ quan trọng của mỗi đất nước, đặc biệt là ở các đất nước hiện đại vấn đề con người càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ tư, Bảo vệ sức khỏe của con người góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức 9 khỏe của người khác góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của con người đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe ngƣời khác 1. Giai đoạn trước năm 1945 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã được quy định trong Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) là Bộ luật hình chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê nước ta, tại các điều 465, 466, 467, 468, 469. Điều 465 quy định: “Đánh người bằng chân tay không, thì bị xử phạt 60 trượng; bằng một vật gì thì xử phạt 80 trượng; nặng hơn nữa thì biếm một tư; phạt tiền tổn thương và tiền tạ như luật; đánh chết người thì phải tội đánh giết người.
Xui người ta đánh, dẫu mình không có mặt lúc đánh nhau, cũng xử một tội”. Hậu quả gây thương tích là căn cứ để tăng hoặc giảm nhẹ hình phạt được quy định cụ thể tại Điều 466: Khi nào cố ý đánh thành thương vẫn không có ý đánh chết, mà hại đến trí mạng, thời chánh phạm sẽ bị khổ sai từ 10 năm đến 15 năm, đồng phạm hoặc tòng phạm sẽ bị khổ sai từ 6 năm đến 8 năm”. Đối với những đối tượng bị cố ý gây thương tích là cha mẹ, ông bà. thì hình phạt sẽ bị tăng nặng hơn và được quy định cụ thể tại Điều 294: “Người nào cố ý đánh thành thương hoặc can những sự hành hung bạo hành khác, có xâm phạm đến thân thể chồng, cha mẹ, ông bà, ông nhạc, bà nhạc, tôn thuộc những người ấy sẽ bị khổ sai từ 6 năm đến 10 năm.
10 Nếu cố ý đánh thành thương, hoặc làm những sự hành hung khác với chú, bác, cô ruột, anh chị, người tội phạm ấy sẽ bị phạt giam từ 2 năm đến 5 năm. Khi nào đánh thành thương hoặc hành hung mà thành ra phế tật, thời về đoạn thứ nhất trong điều này sẽ bị khổ sai từ 11 năm đến 15 năm, về đoạn thứ hai điều này sẽ bị khổ sai từ 6 năm đến 10 năm”. Như vậy, trong thời kỳ trước, cũng đã nhận thức và phân hóa trong đối tượng bị gây thương tích là những người có quan hệ gần gũi, huyết thống như ông bà, cha mẹ để có mức hình phạt nặng hơn so với đối tượng thông thường. Qua nội dung nêu trên cho thấy, vào thời kỳ trước năm 1945, các qui định về tội cố ý gây thương tích đang còn đơn giản, chưa được cụ thể hóa để cá thể hoá hình phạt đồng thời hình phạt lại mang tính chất tra tấn, nhục hình gây đau đớn về thể xác cho con người.
Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được qui định trong Thông tư số 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm, lần đầu tiên quy định tại khoản 3: - Đánh bị thương : phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. - Đánh bị thương có tổ chức hoặc gây thành cố tật hay chết người có thể phạt đến 20 năm. Thuật ngữ “cố ý gây thương tích” lần đầu tiên xuất hiện trong Công văn số 452 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân Tối cao. Công văn này mặc dù chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội cố ý gây thương tích, nhưng đã hướng dẫn phân biệt giữa giết người chưa đạt với 11 cố ý gây thương tích: “Giữa giết người chưa đạt khi phương pháp giết người là gây thương tích như bắn, chém, bóp cổ.
với cố ý gây thương tích, mặt khách quan rất giống nhau: cũng đều có những hành vi gây thương tích cho người khác và không có hậu quả chết người.