Chương 1: Cơ sở pháp lý của tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chương 2: Những bất cập trong tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.
KHÁI NIỆM PHÁP LÝ VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" và Hiến pháp năm 1992 xác định: Đưa nền kinh tế nước ta phát triển thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình, từng bước được thị trường hoá, cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính giảm dần, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận, bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động. Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chấp nhận các đòi hỏi về tự do hoá thương mại.
Kinh tế phát triển, quyền lợi của các nhóm người trong xã hội trỗi dậy, đan xen và ràng buộc lẫn nhau kìm hãm mọi quá trình cải cách trong nền kinh tế; tham ô, tham nhũng bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế xã hội. Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất. Cạnh tranh là "sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba"; là "sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình". Cạnh tranh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góp phần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường; đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế có hiệu quả; thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh; kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên công nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranh khốc liệt trong tình huống đối đầu để duy trì sự phát triển và gia tăng lợi nhuận. Cạnh tranh không lành mạnh theo đó hình thành, ngày càng phát triển dẫn đến tình huống "cùng thua" (lose - lose) và sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi. Pháp luật về cạnh tranh ra đời nhằm quản lý và đảm bảo một nền kinh tế phát triển bền vững. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật Việt Nam Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam quy định: "Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng" [25].
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được cấu thành từ các yếu tố: Chủ thể thực hiện hành vi: Doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Khách thể của hành vi: Lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Mặt khách quan: Hành vi trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh. Đạo đức kinh doanh trên cơ sở của hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung là một dạng đạo đức 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề nghiệp có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh với các nguyên tắc và chuẩn mực: Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời, trung thực trong chấp hành luật pháp; không thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục; trung thực trong giao tiếp với bạn hàng và người tiêu dùng; không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, bán phá giá theo lối ăn cướp; tôn trọng con người; tôn trọng cộng sự và dưới quyền; tôn trọng khách hàng, đối thủ cạnh tranh,… Tùy từng ngành, nghề, theo khu vực địa lý, khái niệm đạo đức kinh doanh lại có những nét đặc thù.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính. Và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo tiêu chí xác định của khoản 4 Điều 3 của Luật Cạnh tranh do Chính phủ quy định. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng được xác định qua các quy định pháp luật của các lĩnh vực chuyên ngành như: Pháp lệnh Giá năm 2002, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010,… Hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại mỗi lĩnh vực kinh tế mang dấu hiệu, đặc điểm nguyên tắc của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung. Tuy nhiên, đối với mỗi lĩnh vực kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc thù.
Theo Pháp lệnh Giá năm 2002 Để xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước phải tôn trọng và thừa nhận quyền định giá của doanh nghiệp đồng thời tạo lập môi trường cạnh tranh về giá ổn định, trật tự và loại trừ những biểu hiện không lành mạnh. Pháp lệnh Giá do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/4/2002 có hiệu lực ngày 01/7/2002; Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá; Thông tư số 15/2004/TT-BTC ngày 09/3/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP, bên cạnh các quy định về các biện pháp quản lý giá, ổn định trật tự giá, các hành vi vi phạm pháp luật về giá được chú trọng, hành vi mang bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định gồm: Hành vi bán phá giá. Hành vi bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích của nhà nước. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện bởi chủ thể kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường, việc tự do hình thành và xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ là quyền của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, mọi hoạt động vật chất đều có những quy luật nhất định, giá cả được hình thành dưới sự thúc đẩy của nhu cầu, lợi nhuận và sự điều tiết của quy luật giá trị, quy luật cung, cầu trên thị trường. Những hành vi bán hàng dưới hoặc bằng mức chi phí sản xuất đều 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được coi là những toan tính phi kinh tế bởi doanh nghiệp thực hiện hành vi đã chấp nhận hy sinh lợi nhuận, thậm chí là lỗ để chỉ nhằm chiếm lĩnh vi trí độc quyền trên thị trường sản phẩm bằng cách loại bỏ các đối thủ cạnh tranh - phá giá độc quyền; hoặc, mở rộng thị trường nhằm làm suy yếu đối thủ cạnh tranh, qua đó mở rộng thị phần của mình - hành vi phá giá nhằm mở rộng thị trường. Hành vi bán phá giá thực chất là hành vi lạm dụng ưu thế tài chính của bên bán phá giá, dẫn đến thiệt hại trực tiếp cho bên bị cạnh tranh, cho ngành hàng và cho người tiêu dùng.
Bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng giá hoặc hạ giá gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi ích của nhà nước. Đây là hành vi mang bản chất gian dối bằng những thông tin không có thật về giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường gây rối hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động tiêu dùng của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế. Doanh nghiệp tạo ra thông tin gian dối hoặc chỉ loan truyền thông tin gian dối do người khác tạo ra đều vi phạm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá. Định giá sai để lừa dối người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất, kinh doanh với mình; Tăng hoặc giảm giá giả tạo bằng cách thay đổi số lượng, chất lượng, địa điểm giao nhận hàng hóa, dịch vụ.
Đây cũng là hành vi mang bản chất gian dối, chủ thể kinh doanh giảm giá nhưng không tôn trọng nguyên tắc của việc giảm giá, không cung cấp thông tin về việc đồng thời giảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhằm tạo cho mình lợi thế cạnh tranh trong giao dịch, gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất kinh doanh với mình. Lợi dụng thiên tai, địch họa và diễn biến bất thường khác để đầu cơ tăng giá, ép giá - hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh. Khi xảy ra thiên tai, địch họa, nhu cầu tiêu dùng, nền kinh tế bị ảnh hưởng một cách trực tiếp và nhanh chóng nhất.