Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Lê Anh Tuấn thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Như Phát, bảo vệ năm 2008 thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 62 38 50 01).
Tên đề tài: Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Tác giả: NCS. Lê Anh Tuấn
Người HDKH: PGS. Nguyễn Như Phát
Cơ sở đào tạo: Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành: Luật kinh tế (Mã số: 62 38 50 01)
Năm bảo vệ: 2008
Về tính cấp thiết, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam phát triển đòi hỏi phải xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và bình đẳng. Ngày 03/12/2004, Quốc hội ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2005), thể chế hóa Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do kinh doanh. Mặc dù vậy, sau khi luật ra đời, các văn bản hướng dẫn thi hành chủ yếu tập trung vào mảng hành vi hạn chế cạnh tranh mà chưa chú trọng đúng mức đến các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM). Sự đa dạng, phức tạp của các thủ pháp thương trường đòi hỏi phải có công trình phân tích chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về pháp luật chống CTKLM.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và mô hình lập pháp về chống CTKLM; phân tích, luận giải có hệ thống thực trạng các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 và pháp luật liên quan; nhận dạng các biểu hiện vi phạm trên thực tế, từ đó đề xuất cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật chống CTKLM tại Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ đặc điểm, tính chất chung, cơ cấu của pháp luật cạnh tranh và vấn đề nhận dạng thị trường liên quan.
- Làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống CTKLM với các luật chuyên ngành và các lĩnh vực pháp luật liên quan đến áp dụng chế tài.
- Nghiên cứu so sánh các mô hình lập pháp về CTKLM và xu hướng phát triển của lĩnh vực này tại các quốc gia trên thế giới.
- Phân tích, bình luận và đánh giá thực trạng các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 cùng các luật chuyên ngành điều chỉnh hành vi CTKLM.
- Nhận dạng các biểu hiện của hành vi CTKLM đang diễn ra trên thị trường Việt Nam.
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục xử lý đối với các hành vi CTKLM.
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp hỗ trợ bảo đảm thực thi pháp luật chống CTKLM.
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào các mô hình lập pháp, xu hướng quốc tế, hệ thống quy định điều chỉnh hành vi CTKLM theo Luật Cạnh tranh năm 2004, các luật chuyên ngành liên quan, cùng trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện và chế tài xử lý.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong mối tương quan giữa Luật Cạnh tranh năm 2004 với các đạo luật kinh tế chuyên ngành (thương mại, sở hữu trí tuệ, quảng cáo, bảo vệ người tiêu dùng, chất lượng hàng hóa, chứng khoán) và pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Về mặt địa lý và kinh nghiệm quốc tế, luận án khảo sát, so sánh pháp luật và án lệ của các quốc gia, vùng lãnh thổ tiêu biểu: Đức, Pháp, Bỉ, Italia, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Bungari, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ trong giai đoạn từ khi Việt Nam chuẩn bị và ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004 đến năm 2008.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trên bình diện quốc tế, các nghiên cứu về pháp luật chống CTKLM đã khởi nguồn từ cuối thế kỷ XIX với tư cách là một dạng thức phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự.
Tại Việt Nam, quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật cạnh tranh trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn trước khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004:
- Đề tài "Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam" do Viện Nghiên cứu thị trường giá cả thuộc Ban Vật giá Chính phủ (nay thuộc Bộ Tài chính) nghiệm thu năm 1996.
- Đề tài nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh do Bộ Tư pháp chủ trì thuộc dự án VIE/94/003 (Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam) nghiệm thu năm 1998.
- Đề tài "Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền tại Việt Nam" của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thực hiện qua dự án VIE/97/016, nghiệm thu năm 2001.
- Đề tài "Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" do Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện năm 2001 (Viện KAS CHLB Đức tài trợ).
- Sách chuyên khảo: "Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" của PGS.TS. Nguyễn Như Phát và ThS. Bùi Nguyên Khánh (2001); "Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" của TS. Đặng Vũ Huân (2004).
- Các bài viết học thuật của GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Nguyễn Như Phát, PGS.TS. Trần Đình Hảo, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa trên các tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Nghiên cứu Lập pháp.
Giai đoạn sau khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004:
- Sách "Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh" của TS. Lê Hoàng Oanh (2005).
- Sách "Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh" của PGS.TS. Nguyễn Như Phát và ThS. Nguyễn Ngọc Sơn (2006).
- Công trình "Những nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng" của nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương (2005).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Các công trình trước năm 2004 chủ yếu phục vụ việc xây dựng luận cứ khuyến nghị ban hành luật; các nghiên cứu sau năm 2004 tập trung chủ yếu vào các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc chỉ tiếp cận hành vi CTKLM ở mức độ khái quát. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, so sánh chuyên sâu 9 nhóm hành vi CTKLM và xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi đồng bộ ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết và khái niệm nền tảng của luật kinh tế và luật cạnh tranh:
- Bản chất của pháp luật cạnh tranh: Được định vị là loại pháp luật "ngăn cản", mang tính "can thiệp", hướng tới việc "bảo toàn" năng lực cạnh tranh thực tế của các chủ thể trên thị trường thay vì trực tiếp tạo ra sức cạnh tranh mới.
- Khái niệm hành vi CTKLM: Luận án tiếp cận theo khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 với 4 dấu hiệu pháp lý: (1) Thực hiện vì mục đích cạnh tranh; (2) Nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu cụ thể; (3) Trái pháp luật, đạo đức kinh doanh hoặc tập quán thương mại tốt đẹp; (4) Trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại cho đối thủ hoặc khách hàng để tạo lợi thế bất chính.
- Khung phân tích thị trường liên quan: Gồm thị trường sản phẩm liên quan (tiêu chí tính thay thế về đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả) và thị trường địa lý liên quan theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ cấu trúc và nội dung quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn.
- Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu quy định và án lệ của 14 quốc gia/vùng lãnh thổ nhằm đúc rút bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phân tích lịch sử, logic, phương pháp chuyên gia và tiếp cận xã hội học pháp luật: Đánh giá khả năng chuyển hóa của các quy phạm cạnh tranh vào đời sống kinh tế.
Nguồn tư liệu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Luật Cạnh tranh năm 2004, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP), các điều ước quốc tế (Điều 10bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Hiệp định TRIPS thuộc WTO, các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu), cùng các tài liệu thực tiễn và án lệ nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Chương 1 làm rõ các nội dung nền tảng về khái niệm, đặc điểm, cơ cấu của pháp luật cạnh tranh và các mô hình lập pháp quốc tế:
-
Phân định cơ cấu pháp luật cạnh tranh: Hệ thống pháp luật cạnh tranh được phân chia thành hai mảng độc lập:
- Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh: Điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel), lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền và tập trung kinh tế (sáp nhập, hợp nhất theo chiều ngang, dọc hoặc hỗn hợp). Mang tính chất luật công nhằm bảo vệ trật tự và cơ cấu thị trường.
- Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh: Điều chỉnh hành vi xâm phạm đối thủ cạnh tranh (ngăn cản qua bán phá giá dưới giá vốn, gièm pha bôi nhọ, bội tín xâm phạm bí mật kinh doanh, bóc lột thành quả qua hàng nhái và quảng cáo so sánh) và xâm phạm quyền lợi khách hàng (can thiệp quyền tự do định đoạt, ép buộc, quấy rầy, mô hình quả bóng tuyết/bán hàng đa cấp bất chính, khuyến mại không lành mạnh, quảng cáo sai lệch).
-
Nhận dạng thị trường liên quan: Phân tích định lượng dựa trên Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, áp dụng phép thử giả định: Kiểm tra mẫu ngẫu nhiên tối thiểu 1.000 người tiêu dùng tại khu vực địa lý liên quan (hoặc 50% nếu không đủ 1.000 người); nếu trên 50% người tiêu dùng chuyển sang mua sản phẩm thay thế khi giá sản phẩm tăng trên 10% duy trì liên tục trong 6 tháng thì hai sản phẩm thuộc cùng thị trường liên quan.
-
Mối quan hệ với các ngành luật khác: Phân biệt ranh giới giữa pháp luật chống CTKLM với pháp luật sở hữu trí tuệ (xâm phạm vì mục đích cạnh tranh thương trường khác với xâm phạm tài sản trí tuệ vì tư lợi đơn thuần), pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và các quy định về áp dụng chế tài (dân sự, hành chính, hình sự).
| Mô hình lập pháp |
Quốc gia áp dụng tiêu biểu |
Đặc điểm kỹ thuật lập pháp |
| Đạo luật chuyên biệt |
Đức, Áo, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, Bỉ, Phần Lan |
Sử dụng Điều khoản tổng quát (General Clause) kết hợp các điều khoản điều chỉnh hành vi cụ thể. |
| Sử dụng Bộ luật Dân sự |
Italia, Hà Lan, Pháp |
Quy định tại điều khoản chung về nghĩa vụ cạnh tranh lành mạnh (Điều 2598 BLDS Ý) hoặc phát triển từ chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 6:162 BLDS Hà Lan; án lệ concurrence déloyale của Pháp). |
| Sử dụng Án lệ (Common Law) |
Vương quốc Anh, Ireland, Hoa Kỳ |
Không xây dựng điều khoản tổng quát riêng; điều chỉnh hành vi qua hệ thống án lệ về trách nhiệm ngoài hợp đồng kết hợp luật sở hữu trí tuệ và cơ chế tự quản. |
- Xu hướng phát triển quốc tế:
- Đa dạng hóa thiết chế thực thi: Thiết chế Thanh tra tiêu dùng (Consumer-Ombudsman) theo Luật Thị trường Đan Mạch (LMF 1974), Luật Bảo vệ người tiêu dùng Phần Lan (KSL) và Luật Thị trường Thụy Điển (MFL 1995:450); Tòa án thị trường chuyên trách tại Phần Lan, Thụy Điển; Cơ quan Thương mại lành mạnh (OFT) tại Anh; cơ chế khởi kiện tập thể của hiệp hội doanh nghiệp và người tiêu dùng (Điều 14 Luật CTKLM Áo, Điều 13 Luật CTKLM Đức, Điều 98 Luật LPC của Bỉ).
- Đa dạng hóa hệ thống chế tài: Áp dụng luật mềm (Soft Law), cảnh báo của cơ quan hành chính (Điều 101 LPC Bỉ), án lệnh khẩn cấp buộc chấm dứt hành vi vi phạm (Đức, Bỉ, Áo, Anh), bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 823 BLDS Đức, Điều 2601 BLDS Ý, Điều 6:195 BLDS Hà Lan, Luật 146/1914 Hy Lạp, Luật 3/1991 Tây Ban Nha), chế tài hình sự (Điều 102 LPC Bỉ phạt tiền 250 - 10.000 EUR, phạt tù 1 tháng - 5 năm với bán hàng đa cấp bất chính theo Điều 84-85; Điều 4 Luật chống CTKLM Đức phạt tù đến 2 năm đối với quảng cáo gây nhầm lẫn).
- Hài hòa hóa pháp luật khu vực: Phân tích giới hạn của Công ước Paris và Hiệp định TRIPS (TRIPS chỉ xử lý chỉ dẫn địa lý và bí mật thương mại); dẫn chiếu các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu: 85/57/EEC (bán hàng tại nhà), 90/314/EEC (du lịch trọn gói), 93/13/EEC (điều kiện thương mại chung), 94/47/EC (lưu trú ngắn hạn), 97/7/EC (bán hàng từ xa), 98/6/EC (chỉ dẫn giá), 98/27/EC (khởi kiện chấm dứt vi phạm).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích 9 nhóm hành vi CTKLM quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 và các thủ tục xử lý liên quan:
-
Thực trạng điều chỉnh 9 nhóm hành vi CTKLM:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn (trang 46): Sử dụng tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng, bao bì gây nhầm lẫn với cơ sở kinh doanh khác; xử lý mối quan hệ chồng lấn với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
- Xâm phạm bí mật kinh doanh (trang 63): Tiếp cận, thu thập, tiết lộ hoặc sử dụng bí mật kinh doanh không được phép của chủ sở hữu.
- Ép buộc trong kinh doanh (trang 73): Hành vi cưỡng ép khách hàng hoặc đối tác nhằm làm gián đoạn quan hệ giao dịch của đối thủ.
- Gièm pha doanh nghiệp khác (trang 80): Trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, khả năng tài chính của đối thủ.
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác (trang 86): Trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở hoạt động kinh doanh bình thường của đối thủ.
- Quảng cáo nhằm CTKLM (trang 92): So sánh trực tiếp hàng hóa, quảng cáo bắt chước, đưa tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng.
- Khuyến mại nhằm CTKLM (trang 105): Khuyến mại gian dối, tặng hàng giả, không công khai giải thưởng.
- Phân biệt đối xử trong hiệp hội (trang 113): Sử dụng quy chế hiệp hội để từ chối gia nhập hoặc phân biệt đối xử bất bình đẳng giữa các hội viên.
- Bán hàng đa cấp bất chính (trang 118): Hoạt động theo mô hình kim tự tháp (quả bóng tuyết), yêu cầu đặt cọc, không cam kết mua lại hàng hóa, thu lợi nhuận chủ yếu từ việc tuyển dụng người tham gia mới.
-
Trình tự, thủ tục xử lý vụ việc CTKLM (trang 130 - 141):
- Thiết chế thực thi: Cơ quan Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, điều tra và ban hành quyết định xử lý hành vi CTKLM.
- Thủ tục tố tụng: Quy trình khiếu nại, thụ lý, điều tra sơ bộ, điều tra chính thức, xử lý vi phạm hành chính và cơ chế khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Chương 3: Cơ chế bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương 3 đưa ra các nhóm giải pháp toàn diện về hoàn thiện quy phạm và thiết chế:
-
Hoàn thiện pháp luật nội dung (trang 144 - 166):
- Đề xuất bổ sung điều khoản quét tổng quát (General Clause) trong Luật Cạnh tranh nhằm bao quát các thủ đoạn CTKLM mới phát sinh trên thương trường.
- Sửa đổi, cụ thể hóa các yếu tố cấu thành của từng hành vi CTKLM (quảng cáo, khuyến mại, bí mật kinh doanh, bán hàng đa cấp).
- Giải quyết xung đột thẩm quyền và quy định giữa Luật Cạnh tranh năm 2004 với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 và Pháp lệnh Quảng cáo.
-
Đề xuất hỗ trợ bảo đảm thực thi (trang 167 - 178):
- Củng cố địa vị pháp lý độc lập và nâng cao năng lực chuyên môn của Cơ quan Quản lý cạnh tranh.
- Đa dạng hóa chế tài: Tăng cường áp dụng án lệnh khẩn cấp tạm thời đình chỉ hành vi vi phạm; hoàn thiện cơ chế khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự tại Tòa án.
- Phát huy vai trò của các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, hiệp hội ngành nghề trong việc giám sát thị trường và đại diện khởi kiện tập thể.
- Xây dựng các quy tắc ứng xử tự quản và cơ chế luật mềm trong cộng đồng doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ rõ 5 đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Là luận án tiến sĩ đầu tiên khái quát có hệ thống các mô hình lập pháp và xu hướng phát triển của pháp luật về chống CTKLM tại các quốc gia trên thế giới.
- Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu, phân tích và luận giải một cách chuyên sâu về 9 nhóm hành vi CTKLM theo Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản liên quan.
- Đặt pháp luật về chống CTKLM trong mối quan hệ hệ thống với nhiều đạo luật kinh tế chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật Dân sự).
- Khảo sát tổng thể thực trạng các dạng hành vi CTKLM phổ biến nhất đang diễn ra trên thị trường Việt Nam giai đoạn đầu thực thi luật.
- Dự báo xu hướng vi phạm và đề xuất đồng bộ cơ chế lập pháp, thiết chế thực thi bảo đảm áp dụng hiệu quả pháp luật chống CTKLM trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, công trình được hoàn thành năm 2008 – thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 mới đi vào cuộc sống được hơn 3 năm, số lượng vụ việc và tiền lệ xử lý thực tế tại Việt Nam còn ở mức độ khởi đầu. Phạm vi so sánh quốc tế tập trung chủ yếu vào hệ thống pháp luật của các quốc gia Châu Âu lục địa, Anh, Hoa Kỳ và một số nước Đông Á.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các chế tài xử lý hành vi CTKLM qua các vụ việc cụ thể phát sinh trong điều kiện hội nhập sâu rộng sau khi gia nhập WTO.
- Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và Tòa án trong việc giải quyết song song trách nhiệm hành chính và yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế phục vụ việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Thẩm phán, luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Cung cấp khung phân tích cấu thành 9 nhóm hành vi CTKLM và ranh giới áp dụng giữa pháp luật cạnh tranh với luật sở hữu trí tuệ, luật thương mại.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Là nguồn tài liệu học thuật hệ thống về luật cạnh tranh so sánh và cơ chế bảo vệ quyền tự do cạnh tranh lành mạnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định pháp luật chống CTKLM là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối thủ cạnh tranh hiện hữu, người tiêu dùng; đồng thời xác định trách nhiệm pháp lý, trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện và các chế tài xử lý.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và pháp luật chống CTKLM là gì?
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (chống thỏa thuận Cartel, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền, kiểm soát tập trung kinh tế) mang tính chất luật công, nhằm bảo vệ cơ cấu và trật tự thị trường chung trước nguy cơ triệt tiêu cạnh tranh. Ngược lại, pháp luật chống CTKLM tiếp cận từ tính chất luật tư, hướng đến việc bảo vệ trực tiếp lợi ích của các đối thủ cạnh tranh cụ thể và khách hàng trước các hành vi phi đạo đức, không trung thực.
3. Tiêu chí xác định tính thay thế về giá của sản phẩm trong thị trường liên quan theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP được quy định ra sao?
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả nếu trên 50% lượng mẫu ngẫu nhiên gồm 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa khác có cùng đặc tính, mục đích sử dụng khi giá hàng hóa ban đầu tăng lên quá 10% và duy trì trong 6 tháng liên tiếp (trường hợp không đủ 1.000 người thì lượng mẫu tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng).
4. Luật Cạnh tranh năm 2004 điều chỉnh những nhóm hành vi CTKLM cụ thể nào?
Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định 9 nhóm hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm CTKLM; Khuyến mại nhằm CTKLM; Phân biệt đối xử trong hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính.
5. Các xu hướng phát triển của pháp luật chống CTKLM trên thế giới được luận án khái quát gồm những nội dung gì?
Ba xu hướng phát triển chính gồm: (1) Đa dạng hóa thiết chế thực thi (sử dụng Thanh tra tiêu dùng Ombudsman, Tòa án thị trường chuyên trách, mở rộng quyền khởi kiện tập thể của hiệp hội và thiết chế tự quản); (2) Đa dạng hóa hệ thống chế tài (kết hợp luật mềm, cảnh báo hành chính, án lệnh tạm thời chấm dứt vi phạm, bồi thường thiệt hại và chế tài hình sự); (3) Hài hòa hóa pháp luật trong các khối kinh tế khu vực (điển hình qua các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu).
Kết luận
Luận án "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Lê Anh Tuấn là công trình tiến sĩ chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện về mảng hành vi cạnh tranh không lành mạnh sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành. Tác phẩm đã phân tích hệ thống cơ sở lý luận, so sánh các mô hình lập pháp quốc tế và mổ xẻ 9 nhóm hành vi CTKLM trong mối tương quan với các đạo luật kinh tế chuyên ngành. Các đề xuất về bổ sung điều khoản tổng quát, đổi mới thiết chế và đa dạng hóa chế tài xử lý tạo nguồn luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện thể chế cạnh tranh tại Việt Nam.