Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Dân tộc học với đề tài "Tổ chức xã hội truyền thống của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Khăm Pheng Thípmuntaly tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Sĩ Giáo và TS. Nguyễn Duy Thiệu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong những thập kỷ qua, việc nghiên cứu các cộng đồng cư dân nói tiếng Thái thu hút sự quan tâm của giới học thuật quốc tế với nhiều chương trình và chín cuộc hội thảo quốc tế lớn của các nhà Thái học (Thai Studies) tổ chức từ năm 1980. Tuy nhiên, các tư liệu học thuật về người Phu Thay tại Lào vẫn chưa được đề cập một cách đầy đủ và toàn diện. Số liệu chính thức năm 1985 ghi nhận tại Lào có 472.458 người Phu Thay (gồm các ngành Phu Thay, Thay Đăm, Thay Đeng, Thay Khảo) sinh sống chủ yếu tại các thung lũng vùng núi cao (Upland-Thai).
Do địa hình hiểm trở, giao thông cách trở và hoàn cảnh lịch sử - chính trị phức tạp kéo dài, các nhà dân tộc học trước đây ít có điều kiện tiếp cận điền dã trực tiếp tại địa bàn. Mặt khác, ngành dân tộc học tại Lào chưa phát triển mạnh nên nguồn tư liệu chuyên khảo sâu (monography) về người Phu Thay còn khan hiếm. Mặc dù các cơ quan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào đã thực hiện nhiều cuộc điều tra dân tộc và miền núi (1960–1968, sau năm 1975, tổng điều tra dân số 1983–1985), song các tài liệu này phục vụ chủ yếu cho công tác quản lý và chính sách, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiên cứu dân tộc học chuyên sâu. Tại tỉnh Hủa Phăn, cộng đồng Phu Thay chiếm tỷ lệ dân số lớn nhất (80.892 người, tương đương 34% dân số toàn tỉnh năm 1999; 85.538 người năm 2000), giữ vai trò cư dân chủ thể nhưng các đặc trưng về thiết chế bản - mường, chế độ sở hữu ruộng đất và quan hệ giai tầng xã hội truyền thống chưa được khảo sát hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tìm hiểu quá trình thiên di của người Phu Thay, quá trình xác lập các hệ thống xã hội và các nhóm địa phương của người Phu Thay ở Lào.
- Tìm hiểu về thiết chế xã hội kiểu bản - mường của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn cùng với chế độ sở hữu ruộng đất độc đáo của nó.
- Góp thêm tư liệu nhằm nghiên cứu so sánh với nội dung này ở người Thái Việt Nam và khu vực.
- Góp tư liệu làm cơ sở khoa học cho các ngành liên quan xây dựng các chính sách liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xã hội bản - mường truyền thống của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn, bao gồm các phương diện: chế độ ruộng đất truyền thống, các tầng lớp trong xã hội, các hình thức bóc lột, cơ cấu hành chính, thiết chế bộ máy thống trị và sự biến đổi của hệ thống này qua các thời kỳ.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào). Điểm khảo sát thực địa trọng điểm tập trung tại ba huyện: mường Xiêng Khọ, mường Xăm Nửa và mường Hủa Mường; mở rộng khảo sát so sánh tại các mường lân cận như mường Xăm Tạy, mường Viêng Xay, mường Pua, mường Ẹt; đồng thời liên hệ đối sánh với vùng người Thái ở Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình) và miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An (Việt Nam), Nam Trung Quốc và Thái Lan.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử từ xã hội cổ truyền tiền nhà nước, các mốc thiên di lịch sử (thế kỷ XIV, thế kỷ XVIII, XIX, các biến động 1952–1954, 1959–1960) đến thời kỳ kháng chiến, xây dựng vùng giải phóng và giai đoạn chuyển đổi từ sau năm 1975 đến đầu những năm 2000.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã tổng hợp các nguồn tư liệu theo các nhóm học giả và khu vực địa lý:
- Nghiên cứu của các học giả phương Tây và quốc tế: Vấn đề thiên di và phân loại cư dân Thái - Lào từng được đề cập khái quát trong các công trình của các tác giả Pháp, Mỹ như Ce Drasem (1985) với bản đồ xác định 37 nhóm tộc người nói tiếng Thái. GS. Georges Condominas trong công trình "Xa lạ là chuyện hàng ngày" (L'exotique est quotidien) xếp thiết chế bản - mường của người Thái là một trong ba dạng xã hội tiền nhà nước điển hình ở Đông Dương (bên cạnh làng xã đồng bằng Bắc Bộ và chế độ tù trưởng Tây Nguyên/Nam Lào). TS. Grant Evans (Australia) trong giai đoạn 1988–1990 nghiên cứu mối quan hệ giữa người Phu Thay và các tộc người khác ở Hủa Phăn dưới góc độ xã hội học tộc người và sự biến đổi xã hội. Tại Thái Lan, các học giả như Cha kit Annartravan, Dar rat Mettra viganont, Nukul Chom Punit, Prapotiwong Sachan, Tawan Kesonnat, Tawee Sil Subwatana đã công bố các khảo cứu về các nhóm Thái.
- Nghiên cứu của các học giả Việt Nam: Các nhà Thái học Việt Nam tập trung khảo cứu người Thái ở Tây Bắc và Đông Bắc với các công trình tiêu biểu của GS. Đặng Nghiêm Vạn, GS. Cầm Trọng, PGS.TS Hoàng Lương, GS.TS Ngô Đức Thịnh. Về địa bàn miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An, các tác giả nghiên cứu gồm GS. Đặng Nghiêm Vạn, PGS.TS Lê Sĩ Giáo, TS. Nguyễn Đình Lộc, GS. Cầm Trọng. Nghiên cứu trực tiếp về người Phu Thay và các tộc người ở Lào có các công trình của TS. Nguyễn Duy Thiệu (lịch sử thiên di, so sánh Phu Thay ở Lào với Thái ở Việt Nam và Thái Lan) và tác giả Hoài Nguyên.
- Nghiên cứu tại Lào: Nguồn tư liệu điều tra dân tộc và miền núi của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (1960–1968), Ủy ban Dân tộc Trung ương Lào (sau 1975), số liệu thống kê dân số (1983–1985), Báo Quốc gia Lào (Năng xử phim Xạt Lao, 1965) và danh mục phân loại tộc người của Viện Dân tộc học Lào năm 1990. Bản thân tác giả Khăm Pheng Thípmuntaly cũng đã công bố các bài báo khoa học và công trình viết chung với TS. Nguyễn Duy Thiệu về chế độ ruộng đất của người Phu Thay ở Hủa Phăn.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù chế độ ruộng đất bước đầu được đề cập trong công trình viết chung trước đó, song thiết chế xã hội, cơ cấu đẳng cấp giai tầng, bộ máy cai trị phìa tạo và sự chuyển đổi sang mô hình quản lý hiện đại của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc kết hợp phân tích văn bản cổ, khảo cứu lịch sử thiên di và tư liệu điền dã thực địa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
- Cơ sở lý luận: Luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự phát triển và biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội.
- Khái niệm tiếp cận: Khái niệm "tổ chức xã hội" được tiếp cận theo nghĩa rộng của Nhân học (Anthropology), nhìn nhận tổ chức xã hội như một kết cấu hoàn chỉnh về lối sống, phương thức tổ chức cư trú, quan hệ kinh tế, quan hệ thân tộc và thiết chế chính trị - hành chính của một cộng đồng tộc người trong môi trường sinh thái thung lũng chân núi.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dân tộc học kết hợp xử lý tư liệu định lượng địa phương:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Là phương pháp chủ đạo, gồm quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn nhóm, điều tra hồi cố với các bô lão, chức dịch cũ và người dân địa phương; kết hợp các thao tác đo đạc, vẽ sơ đồ mặt bằng nhà ở và chụp ảnh tư liệu.
- Phương pháp so sánh gián tiếp: So sánh đối chiếu thiết chế bản - mường, chế độ ruộng đất và tổ chức giai tầng của người Phu Thay ở Hủa Phăn với người Thái ở vùng Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An (Việt Nam) và các nhóm Thái khác trong khu vực.
- Xử lý tài liệu: Phân tích văn bản học (văn bản cổ như Quám tô mường - kể chuyện bản mường), phân loại và thống kê tư liệu lưu trữ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực địa
Nguồn tư liệu xây dựng luận án bao gồm:
- Tài liệu thư tịch: Các công trình công bố, văn bản lưu trữ hành chính, báo cáo thống kê của các cơ quan chức năng tại Lào và Việt Nam; các văn bản chép tay cổ (Quám tô mường).
- Tài liệu điền dã thực địa qua các đợt khảo sát của tác giả:
- Tháng 10/1988: Điền dã tại mường Xiêng Khọ, tỉnh Hủa Phăn.
- Tháng 7/1990: Điền dã tại vùng Sốp Hao, mường Pua, tỉnh Hủa Phăn.
- Tháng 5/2002: Khảo sát bổ sung tại mường Xăm Nửa và mường Hủa Mường (tập trung vào mối quan hệ giữa vùng ruộng và vùng rẫy, sự biến đổi xã hội bản - mường).
- Tư liệu so sánh điền dã tại Sơn La, Việt Nam (tháng 3/1983) và vùng người Thái ở Nam Trung Quốc (1995–1996).
Nội dung chính theo từng chương
Bản luận án có dung lượng 207 trang văn bản (gồm 13 trang mở đầu, 4 trang kết luận, 4 chương nội dung chính) cùng hệ thống phụ lục, bản đồ và biểu bảng.
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và cư dân Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn
Chương 1 cung cấp bức tranh tổng thể về môi trường địa lý, lịch sử hành chính, thành phần cư dân, nguồn gốc thiên di và các hoạt động kinh tế, đời sống vật chất của người Phu Thay tại Hủa Phăn.
1. Điều kiện tự nhiên và phân bố hành chính
Tỉnh Hủa Phăn nằm ở phía Đông Bắc Thượng Lào, tại tọa độ 19°48' vĩ độ Bắc và giữa 103° đến 105° kinh độ Đông; chiều rộng Đông - Tây là 144 km, chiều dài Bắc - Nam là 204 km; diện tích tự nhiên 16.300 km².
| Loại đất / Thảm phủ |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ so với toàn tỉnh |
| Rừng tự nhiên |
645.400 ha |
70,0% |
| Đất canh tác nương rẫy |
376.000 ha |
26,0% |
| Đất ruộng nước và đất có khả năng khai hoang |
> 7.000 ha |
1,5% |
| Đồng cỏ tự nhiên (Phu Phiêng) |
37.000 ha |
~ 2,5% |
Về địa hình, Hủa Phăn có nhiều dãy núi cao bị chia cắt dữ dội như Phu Lơi (Viêng Thoong 2.257 m; Pân 2.062 m), Phu Huột (Xăm Nửa 2.452 m). Các con sông lớn chảy qua địa bàn gồm: sông Mã (Nặm Má) dài 80 km qua mường Xiêng Khọ; sông Nặm Xăm dài 300 km (chảy qua Xăm Nửa và Xăm Tạy 100 km); sông Nặm Nơn dài 500 km (chảy qua Hủa Mường 80 km). Khí hậu chia thành mùa mưa (cuối tháng 4 đến cuối tháng 10, lượng mưa cao nhất 1.600 mm, thấp nhất 1.200 mm) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 3 năm sau).
Về mặt lịch sử hành chính, Hủa Phăn (nghĩa đen là "nghìn đầu", chỉ đơn vị gồm 1.000 tráng đinh) từng chia thành 5 đơn vị (Hủa Phăn thăng hạ), 6 đơn vị (Hủa Phăn thăng hốc) hoặc 8 đơn vị (Hủa Phăn thăng pẹt). Địa bàn từng tồn tại 37 mường nhỏ cát cứ (Mường Ẹt, Mường Sầm, Mường Vắn, Mường Hôm, Mường Hăng, Mường Đưng, Mường Loọng, Mường Pua, Mường Pan, Mường Nga, Mường Cang, Mường Pun, Mường Xổi, Mường Chạt, Mường Hẹo, Mường Khẳn, Mường Phắt, Mường Pao, Mường Cân, Mường Quăn, Mường Na, Mường Dương, Mường Vèn, Mường Ham, Mường Doong, Mường Xang, Mường Xa Nen, Mường Dựt, Mường Pớ, Mường Cụt, Mường Cốu, Mường Lạp, Mường Ọ, Mường Pơn, Mường Bò, Mường Pen, Mường Liệt). Sau đó, các mường nhỏ này sáp nhập thành 8 mường lớn: Viêng Xay, Xăm Nửa, Hủa Mường, Viêng Thoong, Xăm Tạy, Xiêng Khọ, Xốp Bau.
2. Dân số và nguồn gốc thiên di
Theo quy định phân loại của Viện Dân tộc học Lào năm 1990, tên gọi Phu Thay được dùng để chỉ chung một tộc người bao gồm các ngành: Phu Thay, Thay Đăm, Thay Đeng, Thay Khảo, Thay Nửa.
| TT |
Tên tộc người |
Số hộ |
Số nhân khẩu |
Nữ |
Số bản (làng) |
Bản xen kẽ |
Bản không xen kẽ |
| 1 |
Phu Thay |
13.262 |
85.538 |
42.923 |
279 |
9 |
270 |
| 2 |
Kưm Mụ |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 3 |
Hmông |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 4 |
Lào |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 5 |
Xinh Mun |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 6 |
Phoọng |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 7 |
Dao |
- |
- |
- |
- |
- |
- |
| 8 |
Mói |
90 |
607 |
337 |
1 |
- |
1 |
| 9 |
Tàng Đao (kiều bào) |
52 |
370 |
192 |
- |
- |
- |
| Tổng |
Toàn tỉnh |
39.323 |
263.646 |
- |
858 |
89 |
769 |
(Nguồn: Ban nghiên cứu Dân tộc – Mặt trận xây dựng Tổ quốc Lào tỉnh Hủa Phăn, 30/6/2000)
Dấu vết cư trú cổ xưa tại Hủa Phăn được ghi nhận qua các di chỉ hậu kỳ đá cũ và đá mới thuộc văn hóa Hòa Bình tại Thặm Hang, Thặm Pa Loi, các cột đá lớn ở Săn Kong Phan, Kèo Hin Tan, Nok Khouai. Cư dân Môn - Khơme (Khạ Mụ, Phoọng) đã có mặt từ trước tại các vùng thung lũng. Về sau, các nhóm Phu Thay thiên di từ vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ, Thuận Châu - mường Muổi), Mai Châu (Hòa Bình - mường Mun, mường Hạ) và miền Tây Thanh Hóa (Quan Hóa - mường Ca Da, Bá Thước - mường Khoòng) sang Hủa Phăn theo nhiều đợt lịch sử:
- Đợt thiên di cách đây 8–9 đời (khoảng 200 năm) do tránh "giặc lông nhím" (xấc khổn mện), biến động từ khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1769–1770), phong trào Lê Duy Mật và giặc Cờ Vàng (sấc thung lưởng).
- Đợt thiên di cách đây 4–5 đời (khoảng 100 năm) do chạy tránh giặc Cờ Đen (sấc thung đăm của Lưu Vĩnh Phúc) và giặc Cờ Vằn (thung lai - quân viễn chinh Pháp).
- Các đợt chuyển cư trong giai đoạn 1952–1954 (chiến dịch Điện Biên Phủ) và 1959–1960.
3. Hoạt động kinh tế và đời sống vật chất
- Kinh tế nông nghiệp: Trồng trọt lúa nước giữ vai trò trung tâm ("mi nặm chắng pên na, mi na chắng mi khậu" - có nước mới có ruộng, có ruộng mới có thóc) với hệ thống thủy lợi truyền thống mương, phai, lái lin và cọn nước. Vùng núi cao kết hợp làm nương rẫy (phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt). Các ngành kinh tế phụ gia đình gồm chăn nuôi gia súc (thả rông lấy sức kéo), hái lượm (sâu măng, sâu tao), đánh cá (dùng chài hẻ, lưới mong, mò tay, duốc lá cây coi, soi đuốc táy pa), săn bắn cá nhân bằng súng kíp/bẫy và săn tập thể (pay hom).
- Thương nghiệp và lâm thổ sản: Kinh tế mang tính tự cung tự cấp. Hoạt động trao đổi diễn ra vào mùa khô với các mặt hàng thổ cẩm, đồ gốm, sáp cánh kiến; tiền tệ cổ truyền dùng bạc nén (khẳn), ling (1/10 nén), đồng bạc hoa xòe (ngân mẳn / ngân hủa nảm), tiền hào (ngân bi).
| Tên lâm thổ sản / đặc sản |
Năm 1968 |
Năm 1969 |
Năm 1970 |
| Thuốc phiện |
420 kg |
215 kg |
274 kg |
| Cánh kiến trắng |
425 kg |
1.654 kg |
1.184 kg |
| Cánh kiến đỏ |
- |
- |
1.682 kg |
| Sa nhân |
173 kg |
163 kg |
435 kg |
| Sâm |
- |
- |
2.907 kg |
| Hà thủ ô |
- |
- |
3.515 kg |
| Gạc nai |
108 kg |
120 kg |
92 kg |
| Xương hổ |
43 kg |
57 kg |
100 kg |
| Xương khỉ |
345 kg |
304 kg |
351 kg |
| Xương thú khác |
615 kg |
428 kg |
645 kg |
| Hạt có dầu |
- |
- |
1.261 kg |
| Măng khô |
- |
- |
44.692 kg |
| Mộc nhĩ |
2.062 kg |
647 kg |
921 kg |
| Ớt khô |
- |
- |
5.984 kg |
(Nguồn: Tài liệu lưu trữ ngành Mậu dịch huyện Xiêng Khọ, tỉnh Hủa Phăn, 1970)
- Nhà ở truyền thống: Người Phu Thay ở nhà sàn với 4 dạng phát triển: nhà có đà (hươn khảng / hươn kim mạy), nhà quá giang cột chôn (hươn khứ, xảu phẳng), nhà kê quá giang (hươn kê khừ), và dạng phổ biến nhất hiện nay là nhà kê hạ (hươn kê hạ). Cấu trúc nhà chia thành các gian chuyên biệt: hoỏng cơi (gian tiếp khách mùa hè), hoỏng hoóng (gian thờ ma nhà), hoỏng văn (gian có cột hồn xảu văn và buồng ngủ chủ nhà), hoỏng tau phỉng (gian bếp lửa), hoỏng mé (gian phụ của phụ nữ); không gian phân chia thành bên trong (tang cuông) - bên ngoài (tang noọc), phía trên (tang nưa) - phía dưới (tang tớ).
- Trang phục và ẩm thực: Phụ nữ mặc áo ngắn nẹp khuy dây vải (nek) hoặc khuy bạc, váy kín xà rông chàm; phụ nữ Thái Đỏ thêu chân váy hoa văn và thắt lưng dải lụa (xải hướt); phụ nữ Thái Đen, Thái Trắng mặc váy cạp màu; khăn đội đầu dài 2m (phe kạt hủa). Nam giới mặc áo xẻ ngực 3 túi kiểu bà ba, quần chân què. Thức ăn chính là xôi nếp đồ (nửng), chấm chẻo, thịt cá nướng (pỉng), sấy khô (giảng), ủ chua, uống rượu cần trong dịp lễ hội. Phương tiện vận tải là thuyền độc mộc ghép thân tre luồng, mảng bè và ngựa thồ.
Chương 2: Chế độ ruộng đất của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn (26 trang)
Chương 2 đi sâu phân tích cơ sở kinh tế của xã hội truyền thống:
- Tình hình sở hữu ruộng đất: Toàn bộ ruộng đất trong mường thuộc quyền sở hữu tối cao của cộng đồng bản mường do tầng lớp quý tộc phìa tạo đại diện quản lý; ruộng đất tư nhân không tồn tại hoặc rất hạn chế.
- Chế độ phân chia ruộng công bản - mường: Đất canh tác lúa nước được phân bổ định kỳ cho các gia đình thành viên trong bản để cày cấy và thực hiện nghĩa vụ đóng góp tô thuế. Tầng lớp quan lại phìa tạo chiếm giữ các phần ruộng công tốt nhất (ruộng chức dịch, ruộng công mường) do dân đinh canh tác nộp hoa lợi.
- Các hình thức lao dịch: Cư dân bình dân trong bản mường phải thực hiện các hình thức lao dịch nặng nề như làm ruộng cho quan mường (na quan, na tạo), tạp dịch sửa chữa cầu đường, dựng nhà cửa, phục vụ tang lễ, việc công và cung đốn quân lương khi có chiến tranh.
- Mối quan hệ giữa vùng ruộng nước và vùng nương rẫy: Phản ánh mối quan hệ giai tầng và tộc người sâu sắc giữa cư dân Phu Thay (người làm ruộng nước ở vùng thấp thung lũng) với các cộng đồng Môn - Khơme bản địa như Khạ Mụ, Phoọng (người làm nương rẫy ở vùng đồi núi cao). Cư dân vùng rẫy bị đặt vào vị thế phụ thuộc (Khạ), phải nộp cống nạp lâm thổ sản và chịu sự quản chế của phìa tạo Phu Thay.
Chương 3: Thiết chế xã hội truyền thống và bộ máy quản lý bản - mường (64 trang)
Chương 3 là phần trọng tâm khảo sát cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành chính trị - xã hội cổ truyền:
- Quan hệ thân tộc trong bản: Gia đình phụ quyền là tế bào cơ bản; dòng họ giữ vai trò cố kết huyết thống chặt chẽ thông qua việc thờ cúng tổ tiên chung và các kiêng kỵ dòng họ.
- Sự vận hành của bản: Bản là đơn vị cư trú và tổ chức kinh tế - xã hội cơ sở. Đứng đầu bản là Chẩu bản (hoặc Trưởng bản) cùng hội đồng bô lão điều hành công việc nội bộ, phân chia ruộng đất công, duy trì hương ước tập quán và tổ chức các nghi lễ nông nghiệp, cúng tế ma bản (phi bản).
- Thiết chế xã hội mường và bộ máy cai trị phìa tạo: Mường là thiết chế chính trị bao trùm nhiều bản. Bộ máy quản lý do tầng lớp quý tộc phìa tạo nắm giữ theo nguyên tắc thế tập ("cha truyền con nối"). Cấu trúc giai tầng xã hội phân chia rõ rệt:
- Tầng lớp quý tộc cai trị: Đứng đầu là Phìa, Tạo, Chẩu mường, Xen, Mừn thuộc các dòng họ quý tộc của các ngành Thay Đăm, Thay Khảo, Thay Đeng.
- Tầng lớp bình dân (Páy / Táy): Nông dân tự do canh tác ruộng công bản mường, chịu nghĩa vụ thuế khóa và lao dịch.
- Tầng lớp phụ thuộc (Cuông, Lam) và các cư dân vùng cao (Khạ): Có vị thế xã hội thấp kém, trực tiếp phục dịch gia đình quý tộc hoặc chịu sự bảo trợ lệ thuộc.
- So sánh với thiết chế mường của người Thái ở Việt Nam: Luận án so sánh cơ cấu mường Phu Thay Hủa Phăn với hệ thống mường của người Thái Tây Bắc và Thái vùng Thanh - Nghệ (Việt Nam), chỉ ra tính tương đồng về mô hình xã hội thung lũng tiền nhà nước, đồng thời nêu rõ các nét dị biệt do ảnh hưởng giao thoa với văn hóa Lào và cư dân Môn - Khơme bản địa.
Chương 4: Tổ chức xã hội của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn: Từ truyền thống đến hiện đại (31 trang)
Chương 4 phân tích quá trình chuyển biến của xã hội Phu Thay qua các thời kỳ lịch sử:
- Sự biến đổi của tổ chức xã hội truyền thống: Quá trình suy giảm dần quyền lực của tầng lớp quý tộc phong kiến phìa tạo qua thời kỳ Pháp thuộc, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cuộc cải cách dân chủ miền núi do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo (từ những năm 1960).
- Tổ chức xã hội hiện nay: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ phìa tạo áp bức, xác lập hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân ở cấp bản và cấp huyện (mường) theo cơ cấu hành chính thống nhất của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; thiết lập các đoàn thể quần chúng (Mặt trận xây dựng Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên).
- Các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi: Sự chuyển dịch từ kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa; biến đổi trong quan hệ thân tộc, dòng họ và phong tục tập quán; vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh giao lưu kinh tế.
- Vấn đề quản lý bản - mường hiện nay: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý hành chính cơ sở, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các tộc người (Phu Thay, Kưm Mụ, Hmông, Lào, Phoọng), bảo tồn các giá trị tập quán tích cực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi biên giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên về tổ chức xã hội truyền thống của người Phu Thay ở tỉnh Hủa Phăn dựa trên nguồn tư liệu dân tộc học điền dã thực địa.
- Làm sáng tỏ chế độ sở hữu ruộng đất công bản mường và cơ cấu vận hành của bộ máy cai trị phìa tạo truyền thống của người Phu Thay tại Lào.
- Xác định lịch sử thiên di, nguồn gốc và mối quan hệ cội nguồn mật thiết giữa các ngành Phu Thay ở Hủa Phăn với người Thái ở vùng Tây Bắc, Mai Châu (Hòa Bình) và miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An (Việt Nam).
- Cung cấp hệ thống tư liệu khoa học phục vụ nghiên cứu so sánh về thiết chế xã hội, văn hóa của các cộng đồng cư dân nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Đông Nam Á.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Cung cấp cơ sở khoa học và cứ liệu thực tiễn cho các cơ quan Đảng, chính quyền Nhà nước Lào trong việc hoạch định chính sách dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết các tộc người.
- Hỗ trợ công tác quản lý hành chính cấp bản, mường tại tỉnh Hủa Phăn; phục vụ việc xây dựng và triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, định canh định cư và xóa đói giảm nghèo bền vững ở vùng miền núi Thượng Lào.
- Góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị và mở rộng hợp tác nghiên cứu học thuật về Thái học giữa hai nước Lào và Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình
- Thời gian điền dã thực địa: Tác giả tự nhìn nhận thời gian lưu trú điền dã thực địa chưa đạt độ dài liên tục 1–2 năm tại một cộng đồng theo tiêu chuẩn thực nghiệm nhân học cổ điển do điều kiện khó khăn về địa hình, cơ sở vật chất và hoàn cảnh lịch sử; việc khắc phục bằng kinh nghiệm nghiên cứu tích lũy ở các vùng Thái khác không thể thay thế hoàn toàn độ sâu của thời gian điền dã dài hạn.
- Địa bàn khảo sát: Do tỉnh Hủa Phăn có diện tích rộng lớn, khảo sát thực địa mới chỉ tập trung sâu tại một số huyện trọng điểm (Xiêng Khọ, Xăm Nửa, Hủa Mường, Xốp Bau), chưa bao quát đồng đều toàn bộ 8 huyện trong tỉnh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Tiếp tục mở rộng các đợt điền dã dân tộc học chuyên sâu tại các mường vùng sâu, vùng xa của tỉnh Hủa Phăn và các tỉnh lân cận (Xiêng Khoảng, Luổng Pha Bang, Phông Xa Ly).
- Triển khai các đề tài nghiên cứu liên ngành và dự án hợp tác nghiên cứu so sánh chuyên sâu về Thái học giữa các nhà khoa học Lào, Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị học thuật và thực tiễn:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học văn hóa, Lịch sử Đông Nam Á, Xã hội học tộc người và Thái học.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Cung cấp tư liệu thực chứng về phong tục tập quán, cơ cấu tổ chức bản mường và quan hệ tộc người phục vụ việc xây dựng chính sách dân tộc, quản lý hành chính cơ sở và phát triển cộng đồng tại Lào cũng như các khu vực tương đồng ở miền núi Việt Nam.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu điền dã về nguồn gốc thiên di các dòng họ Thái; các mô hình nhà sàn truyền thống; cấu trúc phân tầng xã hội và cơ chế phân chia ruộng công bản mường; bảng thống kê dân số tộc người và khai thác lâm thổ sản lịch sử tại Hủa Phăn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tộc người Phu Thay ở Lào theo quan điểm chính thức bao gồm những ngành nào và có quy mô dân số ra sao?
Theo quan điểm chính thức ở Lào từ năm 1985 và danh mục của Viện Dân tộc học Lào năm 1990, tên gọi Phu Thay là tên chung chỉ một tộc người bao gồm các ngành: Phu Thay, Thay Đăm (Thái Đen), Thay Đeng (Thái Đỏ), Thay Khảo (Thái Trắng) và Thay Nửa. Năm 1985, số dân của nhóm này trên phạm vi toàn quốc Lào là 472.458 người (hoặc 441.479 người theo danh mục 14 tỉnh). Tại tỉnh Hủa Phăn, năm 2000 người Phu Thay có 13.262 hộ với 85.538 nhân khẩu, chiếm 34% dân số toàn tỉnh.
2. Nguồn gốc lịch sử và các con đường thiên di chính của người Phu Thay đến tỉnh Hủa Phăn được ghi nhận như thế nào?
Người Phu Thay ở Hủa Phăn có nguồn gốc chủ yếu và trực tiếp thiên di từ Tây Bắc Việt Nam (Mường Thanh, Mường Muổi - Thuận Châu), vùng Mai Châu (Hòa Bình - mường Mun, mường Hạ) và miền Tây Thanh Hóa (Quan Hóa - mường Ca Da, Bá Thước - mường Khoòng). Quá trình thiên di diễn ra qua nhiều đợt lịch sử: đợt cách đây 8–9 đời (khoảng 200 năm trước) do tránh giặc Lông Nhím, biến động khởi nghĩa Hoàng Công Chất và phong trào Lê Duy Mật; đợt cách đây 4–5 đời (khoảng 100 năm trước) chạy tránh giặc Cờ Đen và quân Pháp; cùng các đợt chuyển cư trong giai đoạn 1952–1954 và 1959–1960.
3. Cơ cấu phân tầng xã hội truyền thống trong thiết chế bản - mường của người Phu Thay ở Hủa Phăn gồm những tầng lớp nào?
Xã hội truyền thống người Phu Thay ở Hủa Phăn được phân định thành ba tầng lớp chính:
- Tầng lớp quý tộc thống trị (Phìa, Tạo, Chẩu mường, Xen, Mừn): Nắm quyền quản lý ruộng đất và bộ máy cai trị mường theo nguyên tắc cha truyền con nối, chủ yếu thuộc các ngành Thay Đăm, Thay Khảo, Thay Đeng.
- Tầng lớp bình dân (Páy hoặc Táy): Những người tự do trong bản mường, trực tiếp canh tác ruộng công và chịu nghĩa vụ nộp tô, lao dịch.
- Tầng lớp phụ thuộc (Cuông, Lam) và cư dân vùng rẫy (Khạ): Có địa vị xã hội thấp kém nhất, làm nghĩa vụ tôi tớ, tạp dịch cho quý tộc hoặc chịu sự quản chế phụ thuộc.
4. Hệ thống nhà ở truyền thống của người Phu Thay ở Hủa Phăn gồm những kiểu loại nào và không gian bên trong được bố trí ra sao?
Nhà sàn truyền thống của người Phu Thay gồm 4 dạng phát triển từ đơn giản đến phức tạp: nhà có đà (hươn khảng / hươn kim mạy), nhà quá giang cột chôn (hươn khứ, xảu phẳng), nhà kê quá giang (hươn kê khừ), và dạng phổ biến nhất là nhà kê hạ (hươn kê hạ). Nhà thường có 4 mái, chia từ 3 đến 7 gian với các chức năng cụ thể: hoỏng cơi (nghỉ ngơi, tiếp khách mùa hè), hoỏng hoóng (đặt bàn thờ ma nhà), hoỏng văn (có cột hồn xảu văn, buồng ngủ gia chủ), hoỏng tau phỉng (gian bếp lửa) và hoỏng mé (gian phụ của phụ nữ). Không gian được phân định ranh giới giữa bên trong (tang cuông) - bên ngoài (tang noọc), phía trên (tang nưa) - phía dưới (tang tớ).
5. Hoạt động kinh tế của người Phu Thay ở Hủa Phăn dựa trên những trụ cột nào?
Nền kinh tế truyền thống mang tính tự cung tự cấp, lấy canh tác nông nghiệp lúa nước tại các thung lũng làm trung tâm với hệ thống công trình thủy lợi mương, phai, lái lin và cọn nước; kết hợp làm nương rẫy ở vùng đồi núi cao. Các hoạt động kinh tế bổ trợ quan trọng gồm: chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò) lấy sức kéo; hái lượm lâm sản và côn trùng (sâu măng, sâu tao); đánh bắt cá trên các sông suối (dùng chài hẻ, lưới mong, mò tay, duốc lá coi); săn bắn chim thú rừng; trao đổi buôn bán thổ cẩm, cánh kiến, thuốc phiện bằng tiền bạc nén (khẳn) và đồng bạc hoa xòe (ngân mẳn).
Kết luận
Luận án tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Khăm Pheng Thípmuntaly là công trình chuyên khảo hệ thống về tổ chức xã hội truyền thống của người Phu Thay tại tỉnh Hủa Phăn (Lào). Dựa trên cơ sở lý luận duy vật lịch sử, phương pháp điền dã dân tộc học và phân tích văn bản cổ, luận án đã phục dựng toàn diện thiết chế bản - mường, chế độ sở hữu ruộng đất công, cơ cấu giai tầng xã hội phìa tạo và tiến trình biến đổi sang mô hình quản lý hành chính dân chủ hiện đại. Công trình làm sáng tỏ mối quan hệ cội nguồn và các đợt thiên di lịch sử giữa người Phu Thay ở Lào với người Thái ở Việt Nam, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quản lý xã hội và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.