đặt vấn đề nghiên cứu ấy vào bối cảnh hiện tại. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 1. Các khái niệm cơ bản - Khái niệm xã hội (Society): thường được hiểu là tập hợp người có những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau, nhưng cho đến nay chưa có một định nghĩa nào được mọi người thừa nhận [119:322]. 20 Đặc điểm bản chất của xã hội là những vấn đề có liên quan đến lãnh thổ, sản xuất dân cư, di cư, hệ thống luật pháp, văn hóa và bản sắc dân tộc.
- Khái niệm tổ chức xã hội Từ trước đến nay, các nhà nhân học văn hóa trong nước và trên thế giới đều tiếp cận các nghiên cứu về tổ chức xã hội trong không gian của văn hóa, xã hội và tổ chức xã hội. Hiểu theo nghĩa rộng, tất cả những gì có giá trị mà con người tạo ra trong cuộc sống xã hội của mình đều được gọi là văn hóa. Và tổ chức xã hội là một tập hợp những tập thể người có quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau. Tổ chức này được cấu trúc thành một xã hội có trật tự theo các tiêu chuẩn, quy định, cách thức mà mọi người tương tác và hoạt động trong môi trường xã hội của mình.
Tuy nhiên, xã hội không chỉ đơn thuần là một sản phẩm văn hóa được con người tạo ra, xã hội và các hoạt động trật tự bên trong của nó cũng là những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển văn hóa. Chính mối tương quan phức tạp giữa văn hóa và xã hội như vậy khiến ranh giới các vấn đề được nghiên cứu của con người không dễ gì tách bạch được. Giới nhân học Bắc Mỹ xem việc nghiên cứu tổ chức xã hội là một nhánh của Nhân học văn hóa, còn Nhân học Anh lại xem đây là một phạm trù thuộc Nhân học xã hội. Nhận thức này tuy không đến mức quá rạch ròi, nhưng lại là cơ sở để nội hàm nghiên cứu của tổ chức xã hội trở nên phong phú hơn so với tên gọi của nó.
Radcliffe Brown (1952) [128], Raymon Firth (1955) [135], Levi Strauss (1958) [130], giới thiệu khái niệm của tổ chức xã hội trong sự phân biệt với cơ cấu xã hội nhưng vẫn còn chưa rõ ràng, khó tiếp cận. Điểm nhấn của Radcliffe và Raymon là tập trung vào các chức năng mà tổ chức xã hội làm được để hỗ trợ cho một trật tự xã hội, đồng thời cũng rất chú trọng mối quan hệ giữa các cá nhân trong cùng tổ chức. Levi Strauss minh họa mối quan hệ giữa tổ chức xã hội và cơ cấu xã hội qua hình ảnh của vỏ sò biển; mỗi vỏ sò có một cấu trúc riêng của nó nhưng vỏ của cùng một loài sẽ chia sẻ cùng một hình thức cấu trúc. Nghĩa là tổ chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội.
Muộn hơn trong nghiên cứu, Charon (1986), cho rằng tổ chức xã hội là một tập thể người, có cùng một liên kết 21 hay ràng buộc về lợi ích tập thể và có sự thống nhất từ trên xuống dưới theo cấp bậc hay chức vị [139]. Nghiên cứu của công trình này chú ý đến những quy tắc được tạo ra trong quá trình tương tác xã hội của cộng đồng người và phân loại sự tương tác đó trên các mức độ từ thấp đến cao của tổ chức xã hội như gia đình, nhóm, dòng họ, làng, cộng đồng. Tựu chung lại, trong quan niệm của Nhân học Anh, tổ chức xã hội chính là một thành tố của cơ cấu xã hội, một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định. Nhận thức này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là quan hệ xã hội.
Và nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào đó. Hơn thế, những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào cùng một nhóm để họ cùng thực hiện chung một hoạt động nào đó, nhằm đạt được những lợi ích nhất định. Ngành dân tộc học Việt Nam, tuy chưa có một công trình cụ thể bàn luận về khái niệm tổ chức xã hội, nhưng trong những nghiên cứu có liên quan đến tổ chức xã hội đã bộc lộ xu hướng nghiên cứu gần với quan điểm của các nhà Nhân học xã hội Anh. Nghĩa là xem tổ chức xã hội thuộc nội hàm của cơ cấu xã hội [11], [55b], [102]… hoặc thuộc nội hàm của thiết chế xã hội [9], [15], [41], [79], [89]; và phần lớn chú trọng khía cạnh quan hệ xã hội khi nghiên cứu về lĩnh vực này [27], [32], [34], [49], [52], [95].
Bên cạnh đó, một nét nổi bật của Dân tộc học Việt Nam là nghiên cứu về xã hội làng chiếm một vị trí quan trọng trong nghiên cứu về tổ chức xã hội các dân tộc nói chung, như công trình của Nguyễn Từ Chi (1984) [11]; Phan Đại Doãn (1992) [22]; Bùi Xuân Đính (1985) [31]; Trần Từ (1984) [102]. Theo Gs Đặng Nghiêm Vạn (1993) [116], ở nước ta do nhiều biến động lịch sử, các hình thức tổ chức cộng đồng tộc người ban đầu đã bị tan vỡ từ lâu, địa vực cư trú của hầu hết các tộc người bị xé lẻ. Do vậy không còn thấy các hình thức tổ chức chính trị xã hội truyền thống tương ứng với từng tộc riêng biệt, chỉ có hình thức tổ chức chính trị xã hội tương 22 ứng với từng khu vực, tập hợp người của các bộ tộc hay các bộ phận tộc người của các tộc hay các bộ phận tộc người cùng cư trú cạnh nhau. Dù sinh sống trong tổ chức mường, xã, phủ, huyện, châu, động, sách, hay chỉ có làng, bản, buôn…; thì làng luôn luôn đóng vai trò then chốt và cơ bản trong hệ thống xã hội cổ truyền.
Vậy nên khuynh hướng coi trọng nghiên cứu làng trong lĩnh vực tổ chức xã hội của giới Dân tộc học Việt Nam là hợp lý. Bởi làng là một thực thể xã hội đặc biệt quan trọng, là đơn vị tổ chức xã hội cơ sở, và những nơi như vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, đó là đơn vị tổ chức xã hội độc lập, cao nhất trong xã hội cổ truyền. Bên cạnh đó, trong các công trình đã công bố của Dân tộc học nước ta, tổ chức xã hội tộc người còn được thể hiện phong phú qua các cấp độ khác nhau như dòng họ, gia đình, hôn nhân, cùng các khía cạnh xã hội đa dạng khác được mổ xẻ qua khái niệm học thuật này. Như vậy, với những dẫn liệu giải trình trong nhận thức về khái niệm tổ chức xã hội ở nước ngoài và trong nước trên đây, có thể thấy tổ chức xã hội là một khái niệm có tính khái quát cao, phạm trù nghiên cứu rất phong phú và đa dạng.
Để phục vụ cho sự nghiên cứu, luận án này sẽ đồng nhất ở nghĩa hẹp, xem tổ chức xã hội là những tổ chức cụ thể của tập hợp người có sự liên kết hay ràng buộc về lợi ích tập thể và có sự thống nhất từ trên xuống theo cấp bậc hay chức vị để cùng thực hiện một mục đích nào đó. Cụ thể, đó là tổ chức gia đình, dòng họ, và làng; trong đó làng là tổ chức xã hội cơ bản nhất. Ở nghĩa rộng, tổ chức xã hội là một thành tố của cơ cấu xã hội, là một dạng hoạt động, hay là một mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể. Nghiên cứu tổ chức xã hội là nghiên cứu các tổ chức cụ thể, đồng thời nhấn mạnh hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân trong các tổ chức ấy và bên ngoài để làm nổi bật vai trò, chức năng của tổ chức xã hội trong mối liên kết gắn bó nhằm đáp ứng được một trật tự tối ưu của cơ cấu xã hội.
Cùng nhìn nhận sự tương quan qua các ý tưởng về phạm trù của khái niệm tổ chức xã hội trong các bài viết, sách của Phan Dữu Dật (1999a) [15]; Lưu Hùng (1994) [58]; Nguyễn Hữu Thông (cb) (2004) [100], Chúng tôi sử dụng hình vẽ sau để biểu đạt các mối quan hệ của các phạm trù liên quan. 23 Quan hệ xã hội Thiết chế xã hội Cơ cấu xã hội Tổ chức xã hội Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa cơ cấu xã hội, thiết chế xã hội, quan hệ xã hội và tổ chức xã hội Với luận án, chúng tôi sẽ triển khai nội hàm khái niệm nghiên cứu tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu, huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế theo khung sau: - Không gian và tên gọi - Cấu trúc thiết chế, sự vận hành Làng - Sở hữu và phân tầng xã hội - Luật tục liên quan đến tổ chức, quản lý Tổ chức xã hội - Tên gọi, nguồn gốc truyền Dòng họ - Cấu trúc dòng họ thống - Vai trò trưởng họ và các mối quan hệ - Kết cấu gia đình Gia đình - Đặc điểm - Quan hệ giữa các thành viên Hình vẽ 1: Khung phân tích khái niệm - Khái niệm biến đổi xã hội Biến đổi là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong những năm gần đây trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Dưới nhiều góc độ nhận thức, khái niệm biến đổi mang nhiều ý nghĩ về sự tích cực hoặc hạn chế nào đó. Trong nhân học văn hoá/ nhân học xã hội khái niệm biến đổi được ra đời từ sớm theo cách hiểu là một quy luật có tính tất yếu của cuộc sống.
Từ những quan 24 niệm trừu tượng của thuyết Khải Hoàn, xem mọi sự biến đổi của nhân loại đều chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo (coi sự vận động của thế giới là điều tất yếu để đi đến cái tốt đẹp), đến những lập luận mang tính khoa học của thuyết Tiến hoá trong bước đầu giải thích mối quan hệ giữa tiến hoá của con người và sinh vật (đó là sự biến đổi theo quá trình, cái sau phát triển hơn cái khác); hay là sự mô phỏng tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng của mọi sự vật, có tiêu vong, biến mất và sau đó cái mới lại xuất hiện (trong mô hình của thuyết Chu kỳ); hoặc những gợi mở về cơ sở biến đổi của thuyết kinh tế, thuyết tư tưởng, thuyết kỹ thuật, thuyết xung đột, thuyết thích ứng trong thế kỷ XX.