Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THANH TRA TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thanh tra Thanh tra theo tiếng Anh (Inspect) – nguồn gốc Latinh (Inspectar) có nghĩa là “nhìn vào bên trong", mô tả một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định.[30, tr10] Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2000, thanh tra có nghĩa là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [31, tr. Với nghĩa này, khái niệm thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái quy định”.
Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Tuy nhiên, cách hiểu này dễ gây tâm lý sợ hãi hoạt động thanh tra do phát sinh suy nghĩ thanh tra chỉ nhằm tìm ra lỗi sai. Hiện nay, Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Từ quy định này, ta có thể thấy được khái niệm thanh tra được cấu thành từ các yếu tố sau: - Là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý.
- Được thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. - Do một số cơ quan nhà nước thực hiện. Hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý đều phải trên cơ sở pháp luật, mang tính khách quan, công bằng. 8 n Như vậy, Thanh tra là hoạt động xem xét trực tiếp hoạt động của đối tượng, căn cứ theo các quy định của pháp luật có liên quan để đánh giá hoạt động đó đúng hay sai.
Đây là khái niệm hoàn chỉnh nhất trong các khái niệm nêu trên vì có ý nghĩa định hướng cả về mục đích, tổ chức và hoạt động thanh tra. Hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra hành chính là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, tổ chức cá nhân cấp dưới trực tiếp. - Thanh tra chuyên ngành là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực đó.
Cơ sở giáo dục đại học Đại học có nghĩa là “Học vấn chuyên nghiệp bậc cao gồm học vấn khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học và lí thuyết kĩ thuật chuyên ngành, kinh nghiệm và kĩ năng hoạt động nghề nghiệp diện rộng, hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ chức - quản lí công tác chuyên môn, phương pháp và kĩ năng tự học tập, nâng cao nghiệp vụ”.18] Giáo dục đại học (tiếng Anh: higher education)[14, tr.18] là giai đoạn giáo dục bậc cao thường diễn ra ở các trường đại học, trường cao đẳng, học viện, và viện công nghệ, bao gồm các bậc sau trung học phổ thông như cao đẳng, đại học, và sau đại học.[31] Từ hai khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu cơ sở giáo dục theo nghĩa là trường, nơi đào tạo học vấn chuyên nghiệp bậc cao gồm học vấn về các lĩnh vực khoa học cơ sở, khoa học và lí thuyết kĩ thuật chuyên ngành, kinh nghiệm và kĩ năng hoạt động nghề nghiệp diện rộng, hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ chức - quản lí công tác chuyên môn, phương pháp và kĩ năng tự 9 n học tập, nâng cao nghiệp vụ; được thực hiện theo các bậc cao đẳng, đại học và sau đại học. Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học ban hành ngày 19/11/2018 có hiệu lực từ ngày 1/7/2019 quy định chi tiết khái niệm về cơ sở giáo dục đại học: “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm “Cơ sở giáo dục đại học” theo các hiểu trên. Thanh tra nội bộ trong cơ sở giáo dục đại học 1.
Khái niệm thanh tra nội bộ Thanh tra nội bộ là tổ chức thanh tra được thành lập trong cơ quan không có chức năng quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Hoạt động thanh tra nội bộ được hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền nhằm giúp người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý toàn diện việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các cá nhân tổ chức trong nội bộ cơ quan đơn vị đó. Điều 78 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra như sau: “Cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thành lập tổ chức thanh tra nội bộ hoặc bố trí cán bộ làm công tác thanh tra nội bộ để giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý của mình. Căn cứ vào quy định của Luật Thanh tra và Nghị định này, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm tổ 10 n chức và chỉ đạo hoạt động thanh tra trong cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị mình”.
Như vậy, trong luận văn này, khái niệm “thanh tra nội bộ” mà chúng tôi sử dụng sẽ được hiểu theo nội dung Nghị định 86/2011/NĐ-CP đã quy định. Khái niệm thanh tra nội bộ cơ sở giáo dục đại học Điều 2 Thông tư 51/2012/TT-BGDĐT ngày 18/12/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp quy định: “Hoạt động thanh tra của trường là hoạt động thanh tra nội bộ, giúp Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý của trường để kiến nghị biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, nội quy, quy chế của trường; giúp đơn vị, tổ chức, cá nhân trong trường thực hiện chính sách pháp luật về giáo dục và chính sách, pháp luật liên quan; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của trường theo quy định của pháp luật”. Do đó, Thanh tra nội bộ trong cơ sở giáo dục đại học là hoạt động thanh tra nội bộ tại cơ sở giáo dục đại học giúp Thủ trưởng, người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng với mục đích nhằm phát hiện các sơ hở trong cơ chế quản lý của đơn vị để kiến nghị biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, nội quy, quy chế của đơn vị; giúp đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách pháp luật về giáo dục và chính sách, pháp luật liên quan; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của thanh tra và thanh tra nội bộ trong cơ sở giáo dục đại học ngành Y tế 1.
Đặc điểm của thanh tra 1. Thanh tra mang tính khách quan Về bản chất thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Từ đây, thanh tra đưa ra kết luận đúng sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động thanh tra mang tính khách quan thể hiện trong việc xem xét, đánh giá đối tượng, nội dung thanh tra đúng thực tế, không suy diễn, phản ánh ở sự minh bạch và công bằng.
Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất “biểu đạt” tính khách quan của thanh tra. Thanh tra mang tính quyền lực nhà nước Có thể nói, thanh tra là một chức năng của quản lí nhà nước. Như vậy, tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra luôn gắn bó chặt chẽ với quyền uy và phục tùng. Thuộc tính này thể hiện qua việc đoàn thanh tra có quyền yêu cầu đối tượng phải thực hiện những vấn đề thuộc nội dung thanh tra, tuân thủ các kiến nghị thanh tra; được phép kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra, đề nghị truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những cá nhân vi phạm pháp luật.
Trong những trường hợp cần thiết được quy định bởi pháp luật, đoàn thanh tra có thể trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Ngoài ra, tính quyền lực còn thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra… 12 n 1. Thanh tra mang tính độc lập tương đối Tính độc lập tương đối là một trong những đặc điểm nổi bật của thanh tra. Đây là thuộc tính căn bản của thanh tra.
Tuy nhiên, hoạt động thanh tra cũng không hoàn toàn biệt lập, tách rời vai trò quản lý nhà nước, mà nó phục vụ quản lý nhà nước. Chủ thể của thanh tra độc lập với chủ thể quản lý nhà nước trong việc xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý. Việc lệ thuộc quá lớn vào Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước sẽ khiến hoạt động thanh tra khó bảo đảm tính chính xác, khách quan, dân chủ và kịp thời. Do đó, theo quy định của pháp luật thanh tra Trưởng Đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra phải độc lập với đối tượng thanh tra.
Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Giữa cơ quan thanh tra và đối tượng thanh tra có thể phát sinh các mối quan hệ trong lĩnh vực quản lý nhà nước.