Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1.Khái niệm giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm 1. Khái niệm giao dịch bảo đảm Theo các quan điểm của Pháp luật các nƣớc trên thế giới tiêu biểu là Hoa Kỳ, Newzealand và Canada khái niệm G Đ (secured transactions) đƣợc hiểu là toàn bộ các giao dịch, không giới hạn và phụ thuộc vào hình thức và tên gọi của giao dịch, có mục đích tạo lập một quyền lợi đƣợc bảo đảm (secured interest) đối với tài sản, bao gồm: hàng hóa, giấy tờ (có giá) hoặc các tài sản vô hình khác. Chính vì vậy, bên cạnh các biện pháp bảo đảm truyền thống nhƣ cầm cố, thế chấp, pháp luật về G Đ của các quốc gia này còn đƣợc áp dụng với các giao dịch khác có tính chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ nhƣ thuê mua tài chính; gửi bán thƣơng mại; chuyển giao nợ, cho thuê tài sản dài hạn, bán có bảo lƣu quyền sở hữu; mua trả chậm, trả dần; chuyển nhƣợng quyền đòi nợ, quyền cầm giữ, thuê tài sản…Đối tƣợng của các giao dịch này là các bất động sản, bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Các nƣớc nhƣ Pháp, Đức, Nhật ản thì không có khái niệm G Đ nhƣ nêu trên, mà G Đ đƣợc hiểu là các biện pháp cụ thể nhƣ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, bảo lƣu quyền sở hữu trong mua trả chậm, trả dần.
Các quy định của L S 2005 đƣợc áp dụng chung cho các quan hệ dân sự và là cơ sở pháp lý đƣợc cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, hôn nhân-gia đình, kinh doanh, thƣơng mại và lao động. Pháp luật chuyên ngành phải đảm bảo tính thống nhất với các quy định của L S 2005. Cụ thể hóa quy định của L S 2005, Chính phủ đã ban hành nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; đồng thời bãi bỏ Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP. Theo khoản 1 Điều 323 L S 2005 thì “Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp 6 luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 318 của ộ luật này”.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cƣợc, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Khái niệm đăng ký giao dịch bảo đảm Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 83/2010/NĐ-CP thì “Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm”. Theo đó, đăng ký G Đ có những đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, đơn vị dịch vụ công thực hiện việc chứng nhận đăng ký G Đ Thẩm quyền đăng ký G Đ đƣợc xác định theo loại tài sản bảo đảm, theo địa giới hành chính - lãnh thổ hoặc theo địa vị pháp lý của bên nhận bảo đảm (tổ chức hoặc cá nhân). Tùy thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, mỗi quốc gia sẽ quyết định lựa chọn mô hình cơ quan đăng ký G Đ phân tán hoặc tập trung, cũng nhƣ xác định mức độ tập trung khác nhau.
Đối với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản trừ tàu bay tàu biển đƣợc đăng ký tại đơn vị dịch công lập đó là các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc ộ Tƣ pháp. Thứ hai, đăng ký G Đ làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với ngƣời thứ ba. Để công khai hóa quyền lợi bảo đảm, từ đó làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với ngƣời thứ ba, thì hợp đồng bảo đảm phải đƣợc đăng ký. Đăng ký G Đ là một trong số các cách thức làm phát sinh hiệu lực pháp lý của G Đ đối với ngƣời thứ ba, vì theo pháp luật về G Đ hiện đại, thì có hai cách thức làm phát sinh giá trị pháp lý của G Đ đối với ngƣời thứ ba, đó là: (i) ằng cách trực tiếp chiếm hữu, kiểm soát tài sản bảo đảm; (ii) ằng cách đăng ký tại cơ quan đăng ký G Đ có thẩm quyền.
Thứ ba, đăng ký G Đ có thể là bắt buộc hoặc tự nguyện, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. 7 Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các trƣờng hợp phải đăng ký G Đ bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng, cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay, thế chấp tàu biển và các trƣờng hợp khác, nếu pháp luật có quy định. Đối với các G Đ bằng tài sản không thuộc các trƣờng hợp nêu trên, thì việc đăng ký đƣợc thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, dù đƣợc đăng ký bắt buộc hay tự nguyện, thì đều có chung hậu quả pháp lý là chỉ khi đăng ký thì G Đ mới có giá trị pháp lý đối với ngƣời thứ ba.
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc đăng ký hợp đồng bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển không chỉ làm phát sinh hiệu lực pháp lý của G Đ đối với ngƣời thứ ba, mà còn là điều kiện bắt buộc làm phát sinh hiệu lực của G Đ. Kinh nghiệm pháp luật của các nƣớc trên thế giới cho thấy, pháp luật dân sự chỉ quy định một nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả các loại giao dịch: một là, đăng ký để có giá trị pháp lý đối với ngƣời thứ ba; hai là, đăng ký để hợp đồng có hiệu lực. Tại Việt Nam đang tồn tại cả hai loại này. Đây cũng là điểm chƣa thống nhất của pháp luật về giá trị pháp lý của đăng ký G Đ.
Thứ tư, việc đăng ký phải đƣợc thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Theo khuyến cáo của các chuyên gia quốc tế thì một hệ thống đăng ký G Đ hiện đại phải giúp các tổ chức, cá nhân "dễ dàng thiết lập quyền lợi về bảo đảm (quyền đối với tài sản bảo đảm) thông qua các cải cách về pháp luật như: rút ngắn thời gian thực hiện đăng ký, đa dạng hóa cách thức đăng ký, đơn giản hoá thông tin trên Đơn yêu cầu đăng ký. Thứ năm, thông tin về G Đ đƣợc đăng ký phải đƣợc cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu. Pháp luật về đăng ký G Đ của các nƣớc khẳng định quyền đƣợc tiếp cận thông tin về G Đ của các tổ chức, cá nhân khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm.
Cung cấp thông tin là mục tiêu quan trọng của tất cả các hệ thống đăng ký G Đ trên thế giới. Trong bối cảnh đó, việc công khai, minh bạch hóa thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đặc biệt có ý nghĩa, góp phần lành mạnh thị trƣờng tài chính - tiền tệ, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật 8 trong lĩnh vực tín dụng, cũng nhƣ các tác động tiêu cực đối với sự ổn định, phát triển của môi trƣờng đầu tƣ. o vậy, thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm đã đăng ký tại các cơ quan có thẩm quyền đều đƣợc lƣu giữ và cung cấp công khai cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cho vay có bảo đảm ngày một mở rộng hơn về hình thức và mức độ.
Đồng thời, nhu cầu bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch đem lại khả năng tiếp cận thông tin một cách rộng rãi và trong chừng mực có thể, sử dụng hệ thống điện tử cho phép đăng ký, truy nhập thông tin nhanh chóng Hiện nay, nhiều quốc gia đang hƣớng đến mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về G Đ tập trung, thống nhất, vì đó là một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống G Đ hiện đại. Một bộ máy công bố thông tin có hiệu quả cần phải biểu hiện qua một hệ thống đăng ký tập trung hóa phục vụ cho mọi loại tài sản bảo đảm, đòi hỏi thông tin đăng ký tối thiểu (có thể chỉ cần nội dung nhận dạng bên nợ và chủ nợ và mô tả khái quát hoặc cụ thể tài sản bảo đảm), mà không cần kèm theo tài liệu xuất xứ của sự việc, ngăn cấm việc rà soát về khía cạnh nội dung của cán bộ đăng ký, đem lại khả năng tiếp cận thông tin một cách rộng rãi và trong chừng mực có thể, sử dụng hệ thống điện tử cho phép đăng ký, truy cập thông tin nhanh chóng [38]. Ở nƣớc ta hiện nay việc tìm kiếm cung cấp thông tin trực tuyến đƣợc thực hiện tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. Tổ chức, cá nhân có thể truy cập tìm kiếm cung cấp thông tin tại Hệ thống đăng ký trực tuyến về giao dịch bảo đảm hoặc gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin đến các Trung tâm đăng ký để cung cấp thông tin.
Pháp luật hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam 1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm và cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm Cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm, theo Điều 46 Nghị định 83/2010/NĐ-CP, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc về đăng ký G Đ gồm: 9 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nƣớc về đăng ký G Đ. ộ Tƣ pháp chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nƣớc về đăng ký G Đ. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng có trách nhiệm trong quản lý nhà nƣớc về đăng ký G Đ bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
ộ Giao thông vận tải trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nƣớc đối với việc đăng ký G Đ đối với tàu bay, tàu biển. UBND cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nƣớc về đăng ký G Đ đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa phƣơng.