phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH 1. Lý luận chung về thanh tra 1. Khái niệm và đặc điểm của thanh tra Theo Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2012 – Chủ đề Thanh tra và pháp luật về thanh tra của Hội đồng phối hợp công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ: Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là ―nhìn vào bên trong‖, chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tƣợng nhất định. Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt động từ ―inspect‖ có nghĩa là ―thanh tra‖ và đƣợc giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tƣợng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ ―inspectorate‖ trong Từ điển Anh - Anh - Việt ―thanh tra‖ lại có nghĩa là một cơ quan, tổ chức, bộ phận thanh tra ví dụ nhƣ ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích ―thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tƣợng đã và đang thực hiện thẩm quyền đƣợc giao nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc‖.
Theo từ điển tiếng Việt ―thanh tra (ngƣời thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp‖ (Từ điển tiếng Việt Viện ngôn ngữ học NXB TP.HCM 2002, Trang 838); thanh tra thƣờng đi kèm với một chủ thể nhất định: "Ngƣời làm nhiệm vụ thanh tra", "đoàn thanh tra" và "đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định". [26] Nhƣ vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thể đƣợc hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nƣớc về thanh tra để chỉ cơ quan, tổ chức thanh tra hoặc bộ phận, lĩnh vực thanh tra nhất định. Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc Nhà nƣớc hoặc quan niệm về quyền lực mà các quốc gia 6 hiện đại đã sử dụng thiết chế thanh tra theo những cách khác nhau. Có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra nhà nƣớc (thanh tra của Quốc hội); thanh tra của Chính phủ (thanh tra hành pháp); kiểm toán; có quốc gia chỉ sử dụng thanh tra chuyên ngành; có quốc gia sử dụng thanh tra nhƣ một lực lƣợng cảnh sát (hoặc bán cảnh sát) hoặc phân về các ngành quản lý để phục vụ quyền lực.
Đồng thời, thanh tra với ý nghĩa là một động từ còn là khái niệm để chỉ hoạt động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan, tổ chức, ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ, quyền hạn nhằm: "xem xét và phát hiện, ngăn chặn với những gì trái với quy định" của các tổ chức, cá nhân là đối tƣợng của thanh tra (Từ điển tiếng Việt NXB.KHXH, Hà Nội, 1994). Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2012 cũng cho rằng: Quan niệm về thanh tra hiện nay cũng nhƣ trong lịch sử nƣớc ta đƣợc thể hiện qua mô hình các cơ quan nhà nƣớc, các quy định của Hiến pháp và pháp luật và đƣợc đề cập ở các giác độ khác nhau [26]: Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chƣa đƣợc sử dụng, nhƣng có các chức quan làm công việc giống nhƣ thanh tra, đó là: thời Lý có chức quan Gián nghị đại phu (tả, hữu gián nghị đại phu); thời Trần có cơ quan gọi là "Ngự sử đài" với chức năng gần giống nhƣ cơ quan thanh tra Nhà nƣớc hiên nay và có chức "Quan ngự sử" đứng đầu Ngự sử đài. Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp Vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan Ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián Vua.
Thời nhà Lê có hàm "Gián nghị đại phu" phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà Vua những việc nên làm và những việc không nên làm. Ngày 23/11/1945, chỉ sau 3 tháng từ khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh nêu rõ: "Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban 7 nhân dân và các cơ quan của Chính phủ", từ đây, thuật ngữ "thanh tra" xuất hiện , quyền thanh tra đƣợc xác định và chính thức giao cho Chính phủ. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nƣớc ta chƣa sử dụng thuật ngữ "Thanh tra", hoạt động thanh tra, kiểm tra chƣa đƣợc giao cho một cơ quan chuyên trách nào, mà quyền "kiểm soát" đối với Chính phủ đƣợc giao cho Ban Thƣờng vụ nghị viện: "khi Nghị viện không họp, Ban Thƣờng vụ có quyền Kiểm soát, phê bình Chính phủ".
Hiến pháp năm 1959 cũng đề cập đến nội dung kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý Nhà nƣớc: "các Bộ trƣởng và thủ trƣởng các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ ra đời những thông tƣ, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các thông tƣ và chỉ thị ấy" và "Uỷ ban hành chính các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định mà ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các quyết định, chỉ thị ấy". Nhƣ vậy, Thanh tra, kiểm tra ở đây ngoài việc xem xét vi phạm của các cơ quan, nhân viên hành chính hay Chính phủ còn mở rộng ra giám sát, kiểm tra các hoạt động xây dựng, ban hành, thực hiện các văn bản pháp quy. Hiến pháp năm 1980 đã sử dụng thuật ngữ "thanh tra" với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nƣớc. Khoản 15, Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trƣởng có nhiệm vụ: "tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nƣớc", Điều 110 quy định: "Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trƣởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nƣớc, Hội đồng Bộ trƣởng".
Về Uỷ ban nhân dân, Điều 124 quy định: "Uỷ ban nhân dân các cấp chiểu theo quyền hạn do luật định, ra những quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó. Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra đƣợc thể hiện rõ hơn qua các điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7, Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ "tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà 8 nƣớc, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nƣớc, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nƣớc; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân". Điều 115 quy định: "…Chính phủ ra Nghị quyết, Nghị định, Thủ tƣớng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó…".
Đối với Bộ trƣởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trƣởng các cơ quan thuộc Chính phủ "ra quyết định, chỉ thị, thông tƣ và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó…" (Điều 116). Đối với Uỷ ban nhân dân, Điều 124, Hiến pháp năm 1992 cũng quy định: "Uỷ ban nhân dân…ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó". Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra đƣợc xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nƣớc. Điều 8 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của các tổ chức thanh tra nhà nƣớc là: " thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nƣớc của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế".
[26] Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyện hạn của các cơ quan Thanh tra Nhà nƣớc. Luật Thanh tra 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 không quy định nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nƣớc mà quy định cụ thể cho từng cơ quan thanh tra nhà nƣớc, nhƣng có thể khái quát nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nƣớc là: quản lý nhà nƣớc về công tác thanh tra; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của thủ trƣởng cơ quan hành chính nhà nƣớc cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng. 9 Thanh tra có những đặc điểm chủ yếu sau đây [26]: Một là, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nƣớc. Với tƣ cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nƣớc, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nƣớc.
Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của Nhà nƣớc trong kiểm soát nhà nƣớc, kiểm soát xã hội. Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tất yếu phải có sự quản lý của Nhà nƣớc để điều hoà những hoạt động đơn lẻ và thực hiện những chức năng chung. Nhƣ vậy, việc xem xét, định hƣớng đánh giá kết quả quản lý là một phƣơng diện của quản lý xã hội. Quản lý nhà nƣớc là một bộ phận quản lý xã hội và ở đâu có quản lý nhà nƣớc ở đó có thanh tra.
Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, quy định về tổ chức, quyết định và kết luận thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra).