mở đầu cho những biến chuyển dồn dập, bất ngờ của nền chính trị Đại Việt suốt hơn 30 năm cuối thế kỷ XVIII cho đến chớm đầu thế kỷ XIX trong lịch sử Việt Nam. Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào Tây Sơn từng bước mở rộng và trưởng thành, lần lượt đánh sụp hệ thống chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, vượt qua ranh giới sông Gianh, đánh đổ tập đoàn cầm quyền của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và sau đó kết thúc vai trò lịch sử của triều Hậu Lê. Nhưng bản thân vương triều mới Tây Sơn, nhất là sau khi vua Quang Trung qua đời (1792), nhanh chóng lâm vào khủng hoảng, chia rẽ, suy yếu, dần đánh mất vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tháng 7 năm Đinh 1 “Binh Bộ: 1.
Là cơ quan hành chính về quân sự của cả nước. Thời Tần Hán vốn là chức trách của Thái úy. Tên gọi Binh bộ có nguồn gốc từ Ngũ binh thượng thư thời Tam Quốc. Ngũ binh gồm: Trung binh, Ngoại binh, Kỵ binh, Biệt binh, Đô binh.
Bắc Chu theo Chu Lễ đặt Hạ quan phủ Đại tư mã khanh, thuộc quan có Binh bộ trung đại phu. Tùy theo tên gọi của Bắc Chu mà đặt 4 ty trong đó có Binh bộ ty. Tùy Dượng đế định chế trưởng quan là Thượng thư, Thị lang làm chánh, phó. Thời Đường, Binh bộ nắm giữ việc tuyển phong võ quan từ Lục phẩm trở xuống, khảo khóa và vũ cử, quân lệnh, quân tịch, quân huấn v.
nhưng không trực tiếp nắm binh. Về sau định chế thành bộ thứ tư trong 6 bộ. Thời Ngũ đại lập Binh bộ nhưng thực quyền ở Khu mật viện. Thời Tống mọi quyền binh trong tay Khu mật viện và Trung thư sảnh.
Chức nhiệm Binh bộ rất nhẹ. Đầu thời Tống, Binh bộ thượng thư và Thị lang chỉ là ký lộc quan. Thời Nam Tống không thường đặt Thượng thư. Vệ úy tự sát nhập vào Binh bộ.
Thời Nguyên, Binh bộ có Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Lệnh sử. Thời Minh có Ngũ quân đô đốc phủ nắm quân lệnh, Binh bộ chỉ nắm quân chính. Nhưng về sau thường là Binh bộ đốc quân xuất chinh. Thời Minh trong Binh bộ lập 4 thanh lại ty.
Thời Thanh, Hoàng đế nắm toàn bộ binh quyền. Binh bộ chỉ là hư danh. Năm Quang Tự (1906), Binh bộ đổi là Lục quân bộ. Thời Lê lúc đầu chỉ có 2 bộ Lại và Lễ, Lê Nghi Dân mới đặt đủ 6 bộ.
Tháng 6 năm Ất Mão (1675), định rõ chế độ chức việc 6 bộ. Bộ Binh giữ việc binh nhung, quân cấm vệ, xe ngựa, đồ nghi trượng, khí giới, giữ việc biên giới, lính thú, nhà trạm, phố sá, nơi hiểm yếu, việc khẩn cấp, tuyển dụng chức võ” [71, Tr. 133 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mùi (1787), Nguyễn Ánh từ Xiêm (Thái Lan) trở về [112, tr.227-228], nhanh chóng chiếm giữ vùng đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay) làm đất đứng chân, nỗ lực phục hồi và củng cố lại lực lượng, mở rộng quyền lực trên chiến trường và chính trường, từng bước giành thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh giành quyền lực với nhà Tây Sơn (1778-1802). Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh tổ chức lập đàn ở đồng An Ninh (Huế) hợp tế trời đất, công bố việc đặt niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn [112, tr.
Đến ngày Kỷ Mùi, tháng 5 năm Bính Dần, Gia Long 5 (1806), Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi ở điện Thái Hòa trong kinh thành Huế, trở thành vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn [112, tr. Vua Gia Long thiết lập trở lại chế độ quân chủ tập quyền với tổ chức bộ máy chính quyền trung ương thể hiện sự kết hợp giữa hệ thống tổ chức của triều Hậu Lê với bộ máy hành chính thời các chúa Nguyễn. Cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước trung ương triều Gia Long có đủ 6 bộ theo thứ tự là Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công, trong đó Bộ Binh làm nhiệm vụ của một tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết cơ cấu nhân sự của Bộ Binh năm 1802 gồm “1 Binh bộ Thượng thư, 2 Binh bộ Tham tri, 3 Thiêm sự, các chức Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp ở ty Lệnh sử và số người trong bản ty cộng 60 viên” [73, tr.
Hai năm sau khi thành lập vương triều mới, vào tháng 4 năm Giáp Tý (1804), triều đình Nguyễn bàn định và ban bố quan chế. Theo đó, quan lại thuộc Bộ Binh làm nhiệm vụ quản lý hành chính quân sự cấp trung ương của triều Nguyễn được liệt vào Văn giai, gồm Thượng thư Bộ Binh (trật Chánh nhị phẩm), Tả tham tri Bộ Binh và Hữu tham tri Bộ Binh (trật Tòng nhị phẩm), Thiêm sự Bộ Binh (trật Chánh tứ phẩm), Câu kê Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng ngũ phẩm), Cai hợp Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng lục phẩm), Thủ hợp Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng thất phẩm), Bản ty Ty Lệnh sử Bộ Binh (trật Tản giai tòng bát phẩm), Thư lại vị nhập lưu (trật Tản giai tòng cửu phẩm). Các quan lại Bộ Binh từ Chánh ngũ phẩm trở xuống được phong tước Bá, từ Chánh lục phẩm trở xuống được phong tước Tử, từ Chánh bát phẩm trở xuống được phong tước Nam [112, tr. 134 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi ban bố quan chế, triều vua Gia Long tiếp tục có một số điều chỉnh đối với cơ cấu nhân sự của Bộ Binh vào các năm Ất Sửu (1805) 1, Canh Ngọ (1810)2 và Quý Dậu (1813)3, tạo thành một cơ cấu được định hình và duy trì ổn định cho đến hết thập kỷ thứ hai của thế kỷ XIX.
Như vậy, ở thời điểm định hình (từ cuối năm 1813), Bộ Binh triều Gia Long gồm 1 viên Thượng thư, 1 viên Tả tham tri, 1 viên Hữu tham tri, 4 viên Thiêm sự, 3 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp và các viên Bản ty, Thư lại vị nhập lưu giúp việc, tổng cộng là 77 người4. Có thể thấy, Bộ Binh trong chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ sau năm 1744 và Bộ Binh trong bộ máy nhà nước thời Gia Long (1802-1820) đều là tổ chức quản lý hành chính quân sự cấp trung ương. Đây chính là cơ cấu tổ chức tiền thân, tiền đề, cơ sở trực tiếp để vua Minh Mệnh và các triều thần tiến hành xây dựng, kiện toàn Bộ Binh về cơ cấu tổ chức trong 21 năm cầm quyền tiếp theo. Quá trình biến chuyển cơ cấu nhân sự của Bộ Binh dƣới triều Minh Mệnh (1820-1840) 1.
Cơ cấu nhân sự năm 1820 Ngày mồng 1 Tết Nguyên đán năm Canh Thìn, tức ngày 14 tháng 2 năm 1820, Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm/Đởm (cũng có tên là Hiệu/Kiểu) - con trai thứ tư của Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần, lên ngôi ở tuổi 29, làm vua trọn 21 năm với niên hiệu Minh Mệnh (1820- 1840)5 [113, tr. Triều vua Minh Mệnh là một thời đoạn có vai trò quan trọng và mang ý nghĩa nhiều mặt trong lịch sử vương triều Nguyễn nói riêng, lịch sử Việt Nam nói chung. Trên cơ sở một quốc gia đã bước đầu được thống nhất từ thời Tây Sơn, sau đó tiếp tục được củng cố trong những năm vua Gia Long tại vị, đến năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, kế thừa một di sản lãnh thổ đồ sộ chưa từng có trước đó trong lịch sử Việt Nam, cũng là tiếp nhận một bài toán khó giải bậc nhất trong quản lý và điều hành đất nước. 1 Triều đình quy định số nhân viên thuộc ty các nha ở Kinh, trong đó Ty Lệnh sử của Bộ Binh có 70 người [112, tr.
2 Triều đình quy định số viên Thiêm sự ở 6 bộ, mỗi bộ 4 người [112, tr. 3 Triều đình quy định số nhân viên thuộc Ty Lệnh sử của 6 bộ, trong đó có 3 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 4 viên Thủ hợp [112, tr. 4 Cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Gia Long (1813-1820) này có sơ đồ tương tự như Sơ đồ 1.3: Sơ đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820) ở Phụ lục. 5 Xem Hình ảnh 1.1: Vua Minh Mệnh (1820-1840) trong phần Phụ lục.
135 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi tiếp nhận ấn ngọc, cờ, gươm - biểu tượng truyền thừa của vương quyền - đặt trên án vàng trước giường ngự của vua cha Gia Long với lời trăng trối “Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn” [112, tr.1001], trong suốt 21 năm cầm quyền, vua Minh Mệnh cần mẫn “chăm lo mọi công việc, thường như một ngày” [116, tr.890] với mong muốn không ngừng kiện toàn bộ máy nhà nước, xây dựng các định chế của vương triều Nguyễn ngày càng hoàn bị. Chỉ vừa nửa năm sau khi lên nối ngôi, vào tháng 7 năm Canh Thìn (1820), với quan niệm “Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ” [113, tr.79], vua Minh Mệnh bắt đầu tiến hành một loạt các công việc điều chỉnh, bổ sung, thậm chí thay đổi, nhằm xây dựng về cơ cấu nhân sự, tổ chức bộ máy, quy định bảo đảm và quy chế vận hành của Lục Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ngày càng đồ sộ và chi tiết. Dưới triều Minh Mệnh (1820-1840), quá trình biến chuyển tổ chức Bộ Binh của nhà nước Việt Nam - Đại Nam diễn ra trên nhiều phương diện, từ cơ cấu nhân sự, cơ cấu tổ chức bộ máy, quy cách vận hành cho đến chế độ lương bổng, tử tuất, phẩm phục. Trong đó, cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Binh là hai vấn đề trung tâm, được vua Minh Mệnh và các vị triều thần giành nhiều tâm sức kiện toàn.
Kế thừa cơ cấu nhân sự và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Binh triều Gia Long, Bộ Binh triều Minh Mệnh ban đầu gồm 1 viên Thượng thư (trật Chánh nhị phẩm), 1 viên Tả tham tri (trật Tòng nhị phẩm), 1 viên Hữu tham tri (trật Tòng nhị phẩm), 4 viên Thiêm sự (trật Chánh tứ phẩm), cai quản và điều hành bộ phận nội thuộc là Ty Lệnh sử Bộ Binh với 3 viên Câu kê (trật Tản giai tòng ngũ phẩm), 3 viên Cai hợp (trật Tản giai tòng lục phẩm), 4 viên Thủ hợp (trật Tản giai tòng thất phẩm), các viên Bản ty (trật Tản giai tòng bát phẩm) và Thư lại vị nhập lưu (trật Tản giai tòng cửu phẩm) giúp việc, tổng cộng là 77 người (Xem Sơ đồ 1.3: Sơ đồ cơ cấu nhân sự Bộ Binh triều Minh Mệnh (1820) trong phần Phụ lục).