phần mở đầu, kết luận, kết cấu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự trong Hệ thống cơ quan thi hành án Bộ Quốc phòng. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự trong Hệ thống cơ quan thi hành án Bộ Quốc phòng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự 1. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “thi hành án dân sự” được hiểu là tổng hợp các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thi hành án dân sự nhằm mục đích bảo đảm việc thi hành trên thực tiễn các bản án, quyết định của Toà án về phần nghĩa vụ dân sự của các bên và các quyết định khác theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án dân sự của nhiều tác giả trong Ngành cũng như ngoài Ngành, đặc biệt làm rõ khái niệm về thi hành án dân sự.
Do vậy, tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả nhận định rằng: Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được thực hiện trên thực tế, là giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các quan hệ dân sự. Khái niệm pháp luật về thi hành án dân sự Pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), thể hiện ý chí nhà nước và 9 được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước. Biểu hiện của tính hệ thống pháp luật là sự phân chia hệ thống ấy thành những ngành, chế định pháp luật điều chỉnh từng lĩnh vực, nhóm quan hệ xã hội nhất định.
Những nhóm quan hệ xã hội ấy giống nhau về nội dung và tính chất, tồn tại một cách khách quan. Pháp luật về THADS có tính chất chuyên ngành được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao, là cơ sở để hình thành pháp luật về THADS “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”1. Như vậy, có thể khái quát: Pháp luật về thi hành án dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự, phát sinh trong giai đoạn thi hành án dân sự nhằm bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và nhà nước. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy, xác định những công việc phù hợp với từng bộ phận, và giao trách nhiệm cho từng nhà quản lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể.
Công tác tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận các hoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận đó. Mục tiêu của 1 Hiến pháp năm 2013 (Điều 106) [34] 10 công tác tổ chức là tạo nên một môi truờng nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy đuợc năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Tổ chức thực hiện pháp luật được hiểu là bằng phương pháp phù hợp biến pháp luật từ quy định đi vào đời sống của xã hội thông qua việc tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng của các chủ thể. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp.
Đó là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan. Tổ chức thực hiện pháp luật là một chuỗi hoạt động nằm trong một chính thể thống nhất, bắt đầu từ huớng dẫn thi hành luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục luật, triển khai, thực hiện, cho đến kiểm tra, giám sát và đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện pháp luật. Ðể triển khai thực hiện pháp luật, Chính phủ ban hành các Nghị định; Bộ truởng, Thủ truởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư huớng dẫn thi hành pháp luật; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện pháp luật dựa trên các Nghị định và Thông tư huớng dẫn thi hành pháp luật. Việc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật phải được thực hiện đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục các hạn chế, thu hút sự tham gia tích cực của các thành phần có liên quan, việc triển khai thực thi pháp luật phải có sự kiểm tra, kiểm soát của các cấp các ngành có liên quan, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu: 11 Tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về thi hành án dân sự được triển khai trong thực tiễn. Tổ chức thực hiện pháp luật về THADS được hiểu là việc lên kế hoạch, sắp xếp các hoạt động và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho các chủ thể là các cơ quan nhà nước, trong việc thực hiện các hoạt động đó, đồng thời, sử dụng toàn bộ những yếu tố, phương tiện, công cụ và những điều kiện cần thiết được xác lập, tổ chức và sử dụng vào quá trình đưa pháp luật THADS vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật THADS được thi hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và hiệu quả trong thực tế. Tổ chức thực hiện pháp luật về THADS trải qua 04 giai đoạn gồm: Xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện pháp luật THADS; Phổ biến, giáo dục pháp luật THADS; Vận dụng pháp luật THADS trong thực tế; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật THADS. Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là hoạt động sắp xếp, có định hướng, được thực hiện bởi các chủ thể nhất định.
THADS là hoạt động liên quan đến quyền lực nhà nước. Nó bao gồm nhiều hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau nên đòi hỏi sự tham gia của chủ thể không chỉ các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp cũng như của chính người có nghĩa vụ thi hành án. Do đó, việc thực hiện quyền lực nhà nước trong THADS là sự ''lưỡng tính” giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Tuy nhiên, THADS không hoàn toàn mang tính quyền lực nhà nước do có sự tham gia của chủ thể không mang quyền lực nhà nước, có hoạt động thực hiện các phán quyết của các chủ thể được nhà nước trao quyền hoặc công nhận (phán quyết của trọng tài), cho phép tồn tại sự 12 thỏa thuận giữa các bên.
Tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng liên quan nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước. Do vậy, có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là hoạt động có định hướng, có chủ định của các cơ quan nhà nước. Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là hoạt động được đảm bảo bằng các biện pháp của Nhà nước quy định, bởi vì pháp luật là sản phẩm của Nhà nước tạo nên; nhằm tác động và hướng tới nhận thức và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, hình thành ý thức tự giác chấp hành pháp luật về THADS. Trong thực tế xã hội, pháp luật được dùng để thể hiện ý chí số đông nhân dân lao động trong xã hội chính vì thế việc pháp luật được tôn trọng và thực thi nghiêm minh là yêu cầu khách quan được đặt ra từ chính đời sống xã hội và sự mong muốn của Nhà nước cũng như nguyện vọng chung của đa số Nhân dân.
Thứ ba, hoạt động trọng tâm của tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực bao gồm con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng văn bản pháp luật để bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật về THADS có liên quan. Thứ tư, tổ chức thực hiện pháp luật về THADS là nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự.