CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE KIEN TRÚC NHÀ LÔ PHÓ Ở HÀ NỘI.1Quá trình hình thành và phát triển nhà lô phố ở Hà Nội.1 Lược sử hình thành nhà lô phố ở Hà Nội. vua Lý Thái Tổ đã chọn Thăng Long làm kinh đô nay là thủ đô Hà Nội. Thành Thăng Long bắt đầu chia làm 2 phần chính: khu nội thành (Hoàng Thành) và khu dân cư ngoài (Kẻ Chợ). Lâu nay, dân gian vẫn hay dùng từ "Kẻ Chợ" để chỉ "Hà Nội" hoặc "người Hà Nội".
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam [14] đưa ra chú thích "Đây là tên gọi dân gian kinh thành Thăng Long ngày xưa. Theo nghĩa hẹp, chỉ khu phố phường dân cư của kinh thành thời Lê - Trịnh, phân biệt với khu hoàng thành của vua quan". Chợ là nơi kinh doanh, buôn bán hàng hoá (với hàng loạt các phố "hàng" khác nhau) ở Hà Nội xưa Hà Nội cũng là địa phương duy nhất trong cả nước được sử dụng danh từ phố phường. Phố chỉ sự phát triển của thị thành, còn phường chỉ sự phát triển của các ngành nghề.
Điều này cho thấy vị thế của các nghề thủ công - thương mại trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất Thăng Long xưa. Nhờ có giao thông đường thủy thuận lợi với các khu vực trong vùng, từ thế kỷ XI, Hà Nội đã rất phát triển về thương mại, chính điều này đã hình thành 36 phố phường. (khu phố cổ) của Hà Nội ngày nay. [14] Sự hình thành cấu trúc các ô phố là do các tuyến đường.
Lúc đầu các ngôi nhà vẫn tuân theo nhà truyền thống của vùng đồng bằng Bắc bộ. Đó là các ngôi nhà không bám theo đường dù là đường chính của thôn hay xóm, và nhà có hướng Nam hay Đông Nam hay được xác định theo tuổi của chủ nhà. Nhưng sau này theo quy luật phát triển của đô thị các ngôi nhà được xây dựng bám theo hai bên đường. Các ngôi nhà này được xây dựng để phục vụ bán hàng nên cách tổ chức khác với nhà truyền thống, chính điều này đã tạo lên cấu trúc nhà lô phó đầu tiên.1: Một số ô đất tiêu biểu thể hiện hình thái ô đất trong quá trình hình thành của phó - Hà Nội,[18] Khi nhắc tới 36 phố phường (khu phố cổ) của Hà Nội al nhà nghiên sử và kiến trúc đã nhắc tới thuật ngữ “ nhà ống” và cả đều thừa.
nhận đó là nét đặc trưng của khu phố. , trong cuốn “ kiến trúc Hà nội thế kỉ XIX — XX” ciia Kts Đặng Thái Hoàng có viết: nhà ống chung tường là loại chủ yếu, có chiều ngang chỉ khoảng 2.4m và sâu từ 20m đến 50m ,60m bề ngang nhà bằng một gian và phát triển theo chiều sâu và ở giữa có một đến hai sân trong. [4] Sự biến đổi của các ngôi nhà mặt phố, theo truyền thống vùng Bắc Bộ chỉ quen làm nhà theo chiều ngang (nhà hình nhất) nên khi chuyển sang làm nhà hình đọc họ đã lấy ngay hệ khung nhà truyền thống một gian khoảng 2,1m đến 2,5m xếp dọc và đề một khoảng sân trống ở giữa và lâu dần các cột gỗ hỏng nên người tôi thay thế bằng tường chịu lực và vẫn giữ nguyên cấu trúc nhà và hệ mái truyền thống. Các ngôi nhà ống cũng được thay đổi theo quá trình tiến bộ của xã hội, của kỹ thuật, của vật liệu xây dựng.2: Mặt cắt, mặt bằng ở phó Hàng Cân - Hà Nội.[18] Mô hình nhà lô chỉ sử dụng thuận tiện khi nó là sở hữu của một chủ với cơ đình khoảng 7, 8 nhân khẩu, nếu nhiều gia đình khác nhau chung sống.
nó sẽ trở lên bắt tiện trong sử dụng. Do vậy những khu vực xây dựng sau này. có ý đồ quy hoạch trước như Bùi Thị Xuân, Triệu Việt Vương, Ngô Thì Nhậm. các lô đất khá đều nhau và có chiều sâu khoảng 25m.
Qua sự phân chia biến đổi không gian đó tôi thấy phổ biến ở các giai đoạn sau này từ những năm 1986 ở các khu tập thể với dạng nhà ở cấp 4. Cũng từ giai đoạn này nhà lô phố bắt đầu phát triển thành các dạng mới phù hợp với nhau cầu phát triển kinh tế xã hội theo hình thái kinh tế thị trường.2 Những dấu mốc phát triển nhà lô phố ở Hà Nội. «_ Giai đoạn trước năm 1990. ~ Nhà xây trước năm 1890 : Là loại nhà ở cổ truyền thống của khu Phố cổ Hà Nội, loại này có đặc điểm chung sau: Hình 1.3: Sân trong nhà phố cổ 87 - Mã Mây ~ Hà Nội.[19J Đây là loại nhà hình ống, phát triển theo chiều sâu, tường nhà nọ liền kè với tường nhà kia.
Mặt tiền hướng ra phố bề ngang chỉ khoảng 2 mét đến 5 mét và sâu từ 20 mét đến 60 mét. Bên trong nhà có các sân trong đề lấy ánh sáng thông thoáng. Số sân phục thuộc vào chiều sâu nhà thường có phô biến từ 1 đến 2 sân trong (xem hình 1.2) Hình dáng kiến trúc phổ biến là nhà lợp mái, hai đầu đỉnh mái ngói của ngôi nhà là hai khối nhô lên hình chữ nhật, xây bằng gạch gọi là trụ đấu mái. Tường giữa mái nhà nọ với nhà kia xây gạch cao lên 1, 0 mét đến 1, 5 mét hình tam cấp đề chống cháy lan, chống thấm cho tường, nhà loại cổ nhất đa phần có 1 tầng, hoặc 1 tằng có gác xép nhỏ ở trên để làm kho chứa hàng Tường ngoài gác xép thường bịt đặc hoặc có lỗ hoa để thông thoáng lấy ánh sáng Hình 1.4: Mặt nhà phố cỗ 87 ~ Mã Mây - Hà Nội.[19] ~ Nhà xây từ 1890 - 1930 Đến cuối thế ki 19, Lịch sử Việt Nam đã có những biến đồi rõ rệt và mạnh mẽ.
Nhưng trong phố cổ Hà Nội nhà của vẫn còn đủ sức tồn tại, thường là của những thương nhân. Như vậy những ngôi nhà xây trước 1890 có thể coi là nhà cổ truyền. Nhìn chung những ngôi nhà này được xây dựng vuông góc với đường phố. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước tôi và Hà Nội được chọn là trung.
tâm kinh tế chính trị cho toàn bộ Đông Nam Á. Khu 36 phố phường được mở rộng như một trung tâm buôn bán, do vậy loại nhà có cửa hàng được phổ biến rộng rãi, bắt đầu ở khu Phố cổ, phần lớn là nhà 2 tằng (trong đó 1 tầng dành riêng cho cửa hàng). Trong nhóm này, một đặc điểm đặc trưng nhất là các cầu thang bằng gỗ hay gạch cổ thay cho những thang gỗ di động trước kia Một số ngôi nhà sử dụng gạch đúc sẵn. Đôi khi bê tông được dùng cho mái, không gian cổ truyền là như trước nhưng kỹ thuật xây dựng tiên tiến hơn [18] Thag mg Errrra Hình 1.5: Nhà ống cải biên số 24 Nguyễn Văn Tổ.[18] 10 v⁄_ Nhà xây từ 1931 - 1954 Những phương thức xây dựng nhà truyền thống vẫn tương tự như trước.
v⁄ Nhà xây từ 1955 - 1975 Do ảnh hưởng của chiến tranh, nhà cửa thời gian này không được phát triển. Vật liệu vẫn là vật liệu cô truyền như trước. ⁄_ Nhà xây từ sau năm 1975 - 1990: Là những nhà có hình thức kiến trúc cổ truyền được xây dựng, cải tạo theo hình thức kiến trúc hiện đại trung bình là 2 tầng với sàn bê tông và bắt cứ nơi nào có thể với những góc mái đua thêm để tăng diện tích ở. Những cửa ván gỗ thay bằng cửa sắt kéo.
Kỹ thuật đá rửa, gạch ốp lát và kính được sử dụng rộng rãi đôi khi không phù hợp với không gian cảnh quan kiến trúc truyền thống. © Giai đoạn 1990 đến 2008 Tir nim 1994, khái niệm khu đô thị mới bắt đầu xuất hiện ở nước tôi gắn liền với sự ra đời của một số khu đô thị điển hình như Định Công, Bắc Linh Đàm, Trung Yên. Vấn đề hình thành và phát triển đô thị mới thay đổi theo quá trình phát triển kinh tế xã hội và phương thức tô chức sản xuất theo từng. thời kỳ, Trước tháng 6/1998 các khu đô thị mới được thiết kế được gọi là các khu xây dựng tập trung có diện tích và quy mô dân số gần với quy mô các tiêu khu nhà ở quy định trong quy phạm quy hoạch đô thị TCVN 4449 - 87 (khoảng 30ha cho 10000 dân).
Sau tháng 6/1998 các khu đô thị mới điển hình là các khu đô thị mới Mỹ. Đình, Mỹ Đình II, Trung Hoà - Nhân Chính, Nam Trung Yên, Pháp Vân - Tứ Hiệp .Với định hướng phát triển kinh tế thị trường, nhà ở cũng trở thành I i loại hàng hoá. Một thi trường nhà ở đang hình thành và phát triển với những. nhu cầu đa dạng và muôn vẻ để đáp ứng nhu cầu về nhà ở.
Cùng với sự bùng nổ về xây dựng, bùng nỗ về các hoạt động thương mại dịch vụ kinh doanh buôn bán cũng đã góp phần tạo nên tâm lý mới cho nhà ở. “Trước đây, một căn hộ hai tầng sạch sẽ yên tĩnh đã là chỗ đáng mong muốn. Thi giờ đây nhà ở lý tưởng phải là kiểu “nhà ở sinh lợi” tức là phải thực hiện được hai chức năng là để ở và kinh doanh (buôn bán, cho thuê, làm dịch vụ, văn phòng.6: Nhà lô phố khu đô thị Định Công ~ Hà Nội.[19J Sau những năm 2000 thì nhiều khu đô thị mới được xây dựng với quy mô đầu tư xây dựng lớn nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội như: chú trọng đến diện tích cây xanh công viên, các khu cộng cộng, nhà ở chú ý đến hình thức kiến trúc, khoảng không cây xanh thông gió chiếu sáng trong từng căn hộ. Với sự phát triển công nghệ xây dựng và vật liệu, các nhà lô phố được bê tông hoá với số tầng từ 3 đến 4 tầng.
Mặt đứng nhà lô phố áp dụng nhiều 12 hình thức kiến trúc trên thế giới như kiến trúc hiện đại, cổ điển, tân cổ điền. Cơ cầu tô chức mặt bằng nhà lô phố cũng có nhiều thay đồi để sử dụng. tiện nghỉ hơn, thông gió chiếu sáng tự nhiên với giếng trời kết hợp với khoảng. sân vườn trước sau.
“ Làng Việt kiều châu Âu Hình 1.7:Mặt bằng quy hoạch khu đô thị Mỗ Lao Hà Đông ~ Hà Nội.[19] Vị trí: Làng Việt kiều châu Âu nằm trong dự án xây dựng khu đô thị mới Mỗ Lao, phường Văn Mỗ, quận Hà Đông. Quy mô: Với 262 căn nhà liên kế có diện tích từ 70 - 90m2, được thiết kế với tổng diện tích sàn sử dụng 200 - 250m2 và có một hoặc hai mặt tiền do ảnh hưởng của vị trí của khu đất tông thể. Hình thức kiến trúc: Mặt bằng căn chia hai phòng hai đầu , thang và vệ sinh ở giữa nhà. Tầng 1 căn nhà chia làm phòng khách và bếp ở hai đầu.