CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀTỔ CHỨC KẾTOÁN QUẢN TRỊTRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị 1.1 Bản chất của kế toán quản trị Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu vào những năm cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Vào thời điểm này thuật ngữ “kế toán quản trị” chưa xuất hiện nhưng thay vào đó thuật ngữ “kế toán chi phí” đã xuất hiện để định nghĩa quy trình tính toán chi phí, xác định giá thành, kiểm soát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Năm 1956, Robert Anthony đã cho xuất bản quyển sách kế toán quản trị đầu tiên đánh dấu quan trọng cho sự ra đời của kế toán quản trị. 2-3] Sự phát triển của kế toán quản trị đi từ yêu cầu phải phục vụ sao cho tốt nhất các công việc dự báo, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định đến nhu cầu tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và chuyển từ kế toán chi phí sang quản trị chi phí.
Tiếp sau đó, kế toán quản trị chuyển sang quan tâm đến việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông, sự thay đổi trong quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ và học hỏi phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị được ghi nhận thành các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn của quá trình phát triển thể hiện sự thích nghi với những điều kiện mới đặt ra cho doanh nghiệp, mỗi giai đoạn có sự kết hợp giữa cái mới với cái cũ, trong đó cái cũ được kết cấu lại để phù hợp với cái mới theo ý nghĩa các điều kiện mới của kế toán quản trị. 5] “Sự phát triển kinh tế, xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức khác nhau về kế toán, kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu về kế toán quản trị, thúc đẩy phát triển kế toán quản trị. Kế toán quản trị được xem như là quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lượng để trình bày, giải thích, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động doanh nghiệp cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp thực hiện toàn diện các chức năng quản trị”.
10] “Một hệ thống kế toán quản trị tuyệt vời có thể sẽ không đảm bảo cạnh tranh thành công, đặc biệt nếu công ty không có sản phẩm tốt, quy trình sản xuất tổ chức hợp lý, hoặc các hoạt động bán hàng và hoạt động tiếp thị hoạt động có hiệu quả. Nhưng một hệ thống kế toán quản trị không hiệu quả, cung cấp thông tin chậm trễ, sai lệch hoặc kết hợp quá nhiều thông tin, có thể sẽ làm suy yếu nỗ lực của công ty trong các hoạt động tiếp thị, sản xuất, nghiên cứu và phát triển”. Như vậy, kế toán quản trị đã trở thành một phần tất yếu của kế toán, tồn tại song hành cùng kế toán tài chính, góp phần vào công tác quản lý của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của kế toán quản trị trong điều hành và quản lý doanh nghiệp Theo Luật kế toán Việt Nam: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó.” Dựa trên những định nghĩa này, vai trò của kế toán quản trị được thể hiện tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị: Chức năng hoạch định: Kế toán quản trị cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật… Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.
Chức năng tổ chức điều hành: Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp. Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chức năng kiểm soát: Kế toán quản trị cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự toán và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai. Chức năng ra quyết định: Kế toán quản trị thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất.
Đối với các quyết định có tính chiến lược, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác định các mục tiêu của tổ chức và đánh giá các mục tiêu đó có thực hiện được trên thực tế hay không. Đối với các quyết định tác nghiệp, kế toán quản trị cung cấp những thông tin để giúp nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của tổ chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào. Vai trò của kế toán quản trị được thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị trong tổ chức: Cấp quản trị Vai trò của kế toán quản trị Cấp cơ sở Cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lý. Cấp trung gian Cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp trung gian giám sát và đưa ra quyết định về các nguồn lực như nguyên vật liệu, vốn đầu tư, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng… Cấp cao Cung cấp thông tin đã được tổng hợp từ các nghiệp vụ, sự kiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đã xảy ra theo từng người điều hành, từng khách hàng và từng bộ phận phục vụ cho nhà quản trị cấp cao để hỗ trợ cho họ đưa ra các quyết định trong ngắn hạn và dài hạn.3 Một số phương pháp kỹ thuật kế toán quản trị: Kế toán quản trị có thể sử dụng các phương pháp kỹ thuật, nguyên tắc kế toán chung như: chứng từ, tài khoản, ghi sổ kép, bảng cân đối kế toán… Ngoài ra, kế toán quản trị còn có một số phương pháp kỹ thuật riêng như sau: Phương pháp phân loại: Nội dung chính của phương pháp này là phân chia các đối tượng nghiên cứu thành các loại, các chi tiết theo từng tiêu thức nhất định để quan sát đối tượng trong mối quan hệ với những loại, những chi tiết hợp thành đối tượng.
Phương pháp so sánh: Nội dung chính của phương pháp này là chọn các chỉ tiêu có cùng điều kiện so sánh hoặc có quan hệ kinh tế để thiết lập quan hệ so sánh với nhau.Từ đó, quan sát biến động nội dung, kết cấu, mối tương quan giữa các đối tượng. Phương pháp phân tích mức ảnh hưởng các nhân tố: Nội dung chính của phương pháp này là xác định, lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của một chỉ tiêu. Phương pháp đồ thị, biểu đồ: Nội dung chính của phương pháp này là căn cứ vào mối quan hệ giữa các đối tượng thiết lập phương trình toán học biểu hiện mối quan hệ giữa chúng. Từ đó, thiết lập nên đồ thị hay biểu đồ thể hiện các đối tượng và cũng chính từ đồ thị, biểu đồ này nhận định, quan sát sự tồn tại, đặc điểm đối tượng.
Phương pháp chỉ số tài chính: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Nội dung cơ bản của phương pháp này là căn cứ vào mối quan hệ có ý nghĩa giữa các yếu tố tài chính thiết lập nên các chỉ số tài chính có nội dung, kết cấu tài chính đặc trưng. Phương pháp định lượng: Phương pháp này dựa trên nền tảng kinh tế lượng, vận dụng các kỹ thuật kinh tế lượng để lượng hóa thông tin. Từ đó, căn cứ vào đặc điểm thông tin kết hợp với toán học để quan sát các hiện tượng kinh tế tài chính. Phương pháp phân tích thông tin thích hợp: Phương pháp này là một quy trình chọn lọc, đơn giản hóa thông tin các phương án để cung cấp thông tin ngắn gọn, phù hợp, nhanh chóng và có trọng tâm cho chọn lựa một phương án kinh doanh.
Phương pháp bảng cân bằng thành quả: Phương pháp này dựa vào các yếu tố giữ vai trò quan trọng và quyết định đến kết quả, hiệu quả, sự ổn định, phát triển doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn để thiết kế nên một bảng cân đối giữa các yếu tố này. Từ đó, đánh giá tình hình hiện thực, tiềm năng và triển vọng hoạt động của doanh nghiệp. Phương pháp cân đối chi phí – lợi ích: Nội dung của phương pháp này là thiết lập mối quan hệ giữa chi phí với lợi ích kinh tế mà nó đem lại. Chi phí được xem hữu ích khi nó tạo ra một giá trị hữu dụng, chi phí được xem hiệu quả khi nó tạo nên một giá trị hữu dụng tương ứng với một giá trị gia tăng hoặc nguồn thu nhập, tiềm năng kinh tế lớn hơn chi phí.
Phương pháp phân tích quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận: Phương pháp tính thời giá tiền tệ: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Phương pháp này được xây dựng trên quan điểm đồng tiền luôn tạo ra khả năng sinh lời.