Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng với việc hoàn tất đàm phán, ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm 2015 và sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Các sự kiện này mở ra nhiều cơ hội tiếp cận thị trường nhưng đồng thời đặt các doanh nghiệp xây dựng cơ bản trong nước trước áp lực cạnh tranh gay gắt. Đặc thù của ngành xây dựng là sản phẩm có quy mô lớn, kết cấu kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công kéo dài, địa bàn thi công phân tán ngoài trời và giá bán (giá nhận thầu) thường được xác định trước khi tiến hành sản xuất thông qua đấu thầu. Do đó, việc kiểm soát chi phí sản xuất và xác định chính xác giá thành công trình là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế và khả năng bảo toàn vốn của doanh nghiệp.

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn – một đơn vị thi công xây lắp quy mô vừa và nhỏ vừa vượt qua giai đoạn trầm lắng của thị trường bất động sản sau khủng hoảng tài chính 2008–2009 – yêu cầu hoàn thiện công tác kế toán quản lý chi phí trở nên cấp thiết. Tác giả Phạm Thu Hương đã lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản.
  2. Khảo sát, phân tích và mô tả thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn.
  3. Đánh giá những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong quy trình hạch toán, luân chuyển chứng từ và ứng dụng phần mềm tại đơn vị; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn; phạm vi về thời gian tập trung vào số liệu hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012–2014 và số liệu chứng từ kế toán phát sinh thực tế trong quý IV năm 2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam, bao gồm:

  • Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính (chuyển đổi từ Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC).
  • Quy định trích khấu hao tài sản cố định theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC.
  • Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS), trọng tâm là: VAS 01 (Chuẩn mực chung), VAS 02 (Hàng tồn kho), VAS 03 (Tài sản cố định), VAS 14 (Doanh thu và thu nhập khác), VAS 15 (Hợp đồng xây dựng) và VAS 17 (Thuế thu nhập doanh nghiệp).

Về mặt lý thuyết chuyên ngành, khóa luận làm rõ hai cách phân loại chi phí sản xuất: phân loại theo nội dung kinh tế (gồm 5 yếu tố: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền) và phân loại theo mục đích, công dụng kinh tế (gồm 4 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - TK 621, Chi phí nhân công trực tiếp - TK 622, Chi phí sử dụng máy thi công - TK 623, Chi phí sản xuất chung - TK 627). Về giá thành, tác giả phân định mối quan hệ giữa chi phí và giá thành thông qua công thức tổng quát:

$$Z = D_{đk} + C - D_{ck}$$

Trong đó $Z$ là tổng giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ, $D_{đk}$ là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, $C$ là chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, và $D_{ck}$ là chi phí dở dang cuối kỳ. Lý thuyết cũng xác định 3 loại giá thành theo thời điểm tính (dự toán, kế hoạch, thực tế) và 3 phương pháp tính giá thành phổ biến trong xây lắp: phương pháp giản đơn, phương pháp theo đơn đặt hàng và phương pháp cộng chi phí.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm: phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu thực tế từ phòng Kế toán - Tài chính và phòng Kinh tế - Kế hoạch; phương pháp quan sát, phỏng vấn trực tiếp cán bộ chuyên trách; phương pháp phân tích, đối chiếu số liệu báo cáo tài chính; và phương pháp hạch toán kế toán (chứng từ, tài khoản, ghi sổ kép, tổng hợp cân đối). Nguồn dữ liệu sử dụng là hồ sơ đăng ký kinh doanh, báo cáo tài chính các năm 2012, 2013, 2014 cùng hệ thống chứng từ kế toán gốc thực tế phát sinh tại công trình trong tháng 10 năm 2015.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp xây dựng cơ bản

Chương này tập trung làm rõ các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc thù chi phối công tác kế toán trong ngành xây dựng cơ bản:

  • Sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, cố định tại nơi sản xuất, có kết cấu phức tạp, quy mô lớn và giá trị kinh tế cao; quá trình thi công diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên và địa bàn trải rộng.
  • Hạch toán chi phí sản xuất được thực hiện theo 4 khoản mục: nguyên vật liệu trực tiếp (không bao gồm thiết bị chủ đầu tư bàn giao và vật tư cho máy), nhân công trực tiếp (tiền lương công nhân xây lắp trực tiếp và công nhân phục vụ), chi phí sử dụng máy thi công (gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời) và chi phí sản xuất chung (chi phí nhân viên đội, vật liệu, dụng cụ, khấu hao, dịch vụ mua ngoài tại công trường).
  • Về phương pháp kế toán: Đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng công trình, hạng mục công trình hoặc giai đoạn công việc có giá trị dự toán riêng. Phương pháp tập hợp gồm tập hợp trực tiếp (với chi phí riêng biệt) và phân bổ gián tiếp theo hệ số $H = C / T$ (với chi phí chung). Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được thực hiện theo chi phí thực tế lũy kế khi hoàn thành bàn giao toàn bộ, hoặc xác định theo tỷ lệ khối lượng hoàn thành so với dự toán nếu nghiệm thu theo giai đoạn quy ước.

Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn

Chương 2 mô tả chi tiết thực tế tổ chức sản xuất và công tác kế toán tại đơn vị nghiên cứu:

1. Khái quát đơn vị: Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn (HLS.JSC) thành lập ngày 23/12/2009 theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 0104346411; trụ sở tại Khu dân cư Bằng A, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội; người đại diện pháp luật là ông Hoàng Văn Luật (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc). Vốn điều lệ ban đầu là 4,9 tỷ đồng (tương ứng 49.000 cổ phần mệnh giá 100.000 đồng/cổ phần), sau đó tăng lên 21,5 tỷ đồng. Quy mô nhân sự gồm hơn 30 cán bộ nhân viên cố định và trên 500 lao động thời vụ.

2. Tình hình sản xuất kinh doanh: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012–2014 được tổng hợp trong bảng số liệu dưới đây:

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Doanh thu (triệu đồng) 16.222 21.135 27.453
Giá vốn hàng bán (triệu đồng) 9.368 19.937 -
Chi phí bán hàng (triệu đồng) 0 0 0
Chi phí quản lý doanh nghiệp (triệu đồng) 4.220 4.210 3.952
Chi phí tài chính (triệu đồng) 1.253 1.050 1.351
Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng) 1.552 2.007 2.853

Doanh thu năm 2013 tăng 4.913 triệu đồng (29%) so với năm 2012; doanh thu năm 2014 tăng 6.318 triệu đồng (28%) so với năm 2013. Lợi nhuận trước thuế năm 2013 đạt 2.007 triệu đồng (tăng 29,3%); năm 2014 đạt 2.853 triệu đồng (tăng 42,1% so với 2013). Sự tăng trưởng này có đóng góp quan trọng từ gói hỗ trợ tín dụng 30.000 tỷ đồng của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính thúc đẩy phân khúc bất động sản và nhu cầu xây dựng.

3. Tổ chức bộ máy và chính sách kế toán:

  • Mô hình kế toán: Tổ chức tập trung tại văn phòng công ty. Các đội xây lắp không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà bố trí nhân viên ghi chép, lập bảng kê gửi về phòng Kế toán. Do tinh giản nhân lực, công ty áp dụng hình thức kiêm nhiệm: Kế toán thanh toán công nợ kiêm Kế toán tiền mặt/TGNH; Kế toán TSCĐ/CCDC kiêm Kế toán vật tư; Kế toán chi phí giá thành kiêm Thủ quỹ.
  • Chế độ hạch toán: Áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC; hình thức sổ Nhật ký chung; niên độ từ 01/01 đến 31/12; đơn vị tiền tệ VNĐ; nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; hàng tồn kho hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên, tính giá trị xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ; trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng; toàn bộ dữ liệu kế toán được xử lý trên phần mềm MISA.

4. Thực tế hạch toán chi phí sản xuất tại đơn vị:

  • Phân loại chi phí: Công ty gom toàn bộ chi phí sản xuất vào 3 khoản mục: Chi phí NVL trực tiếp (TK 621), Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622) và Chi phí sản xuất chung (TK 627). Điểm đặc thù là công ty không sử dụng TK 623 (Chi phí sử dụng máy thi công). Tiền lương và bảo hiểm của công nhân lái máy thi công được hạch toán chung vào TK 622; chi phí thuê ngoài máy thi công và khấu hao máy được đưa vào TK 627.
  • Đối tượng và phương pháp tập hợp: Đối tượng là từng công trình, hạng mục công trình độc lập. Công ty sử dụng phương pháp tập hợp trực tiếp cho từng mã đối tượng.
  • Minh chứng thực tế qua công trình "Nhà ăn trường THPT Phan Bội Châu (Hải Dương)" - mã theo dõi PBC_NHA_AN, tài khoản chi tiết TK 6211:
    • Trường hợp mua xuất thẳng không qua kho: Căn cứ Phiếu yêu cầu vật tư ngày 12/10/2015 của Đội trưởng Đội 1 (Nguyễn Văn Anh) đề nghị mua 14.970 viên gạch nung. Phòng Kinh tế - Kế hoạch duyệt mua từ Công ty Thương mại Vận tải Thành Đạt. Ngày 21/10/2015, căn cứ Giấy đề nghị thanh toán số 2015/PBC/NA/18 và Hóa đơn GTGT số 0001051, kế toán thanh toán tiền mặt và nhập liệu phần mềm: Nợ TK 6211 (16.766.400 đồng), Nợ TK 1331 (1.676.640 đồng), Có TK 1111 (18.443.040 đồng) với đơn giá mua 1.120 đồng/viên. Toàn bộ chi phí vận chuyển bốc dỡ phát sinh được hạch toán vào TK 627.
    • Trường hợp xuất từ kho: Phiếu yêu cầu vật tư ngày 31/10/2015 xin cấp 960 kg thép cuộn Ø6. Kế toán tính đơn giá xuất bình quân cả kỳ dự trữ tháng 10/2015 là 11.260 đồng/kg. Giá trị xuất kho được xác định: $960 \times 11.260 = 10.809.600$ đồng. Kế toán lập Phiếu xuất kho và ghi sổ: Nợ TK 6211: 10.809.600 đồng / Có TK 152: 10.809.600 đồng.

5. Những tồn tại được phát hiện: Tác giả chỉ ra các điểm bất cập gồm: việc kiêm nhiệm chức danh thủ quỹ với kế toán chi phí giá thành vi phạm nguyên tắc bất kiêm nhiệm trong kiểm soát nội bộ; không sử dụng TK 623 làm mất đi công cụ kiểm soát định mức ca máy; chi phí thu mua, bốc dỡ vật liệu không được tính vào giá gốc vật tư mà phân bổ vào chi phí sản xuất chung; phương pháp tính giá xuất kho bình quân cả kỳ dự trữ làm chậm tiến độ tổng hợp chi phí trong kỳ.

Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn

Dựa trên các tồn tại ở Chương 2, tác giả đề xuất 5 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Về bộ máy kế toán và phần mềm hỗ trợ: Tách biệt vị trí Thủ quỹ khỏi Kế toán chi phí giá thành nhằm đảm bảo an toàn tiền mặt và tính khách quan số liệu; tối ưu hóa các phân hệ quản lý công trình trên phần mềm kế toán MISA.
  2. Về kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Tính chi phí vận chuyển, bốc dỡ trực tiếp vào giá gốc nguyên vật liệu mua vào (theo Chuẩn mực VAS 02) thay vì đưa vào TK 627; tăng cường kiểm tra định mức tiêu hao vật tư tại công trường.
  3. Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Phân tách rõ ràng giữa chi phí nhân công xây lắp trực tiếp và chi phí nhân công điều khiển xe, máy thi công.
  4. Về kế toán chi phí máy thi công: Khôi phục việc mở và sử dụng Tài khoản 623 - Chi phí sử dụng máy thi công theo đúng quy định Thông tư 200/2014/TT-BTC, theo dõi chi tiết chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời nhằm kiểm soát chặt chẽ giá thành ca máy.
  5. Về kế toán chi phí sản xuất chung: Chuẩn hóa việc phân loại chi phí gián tiếp và lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung phù hợp (như dựa trên tỷ lệ chi phí nhân công trực tiếp hoặc dự toán) thay vì tập hợp dàn trải.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng hợp bức tranh tài chính của Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn qua 3 năm (2012–2014), phản ánh mức tăng trưởng doanh thu từ 16,222 tỷ đồng lên 27,453 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế tăng từ 1,552 tỷ đồng lên 2,853 tỷ đồng.
  • Phản ánh trung thực quy trình luân chuyển chứng từ và thao tác hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trên phần mềm MISA thông qua hai nghiệp vụ kinh tế cụ thể tại công trình Nhà ăn trường THPT Phan Bội Châu (nghiệp vụ mua gạch nung thanh toán tiền mặt 18.443.040 đồng và nghiệp vụ xuất kho thép cuộn Ø6 trị giá 10.809.600 đồng).
  • Phát hiện các sai lệch thực tế so với chuẩn mực: việc bỏ qua TK 623, việc đưa chi phí vận chuyển vào TK 627, và bố trí kiêm nhiệm giữa kế toán chi phí với thủ quỹ.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã đối chiếu giữa lý luận kế toán doanh nghiệp xây lắp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC với thực tế vận dụng tại một doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ. Tác giả đã chỉ ra khoảng cách giữa quy định chuẩn mực (đòi hỏi mở 4 khoản mục chi phí) với xu hướng tinh giản chứng từ tại doanh nghiệp (thu gọn còn 3 khoản mục, bỏ TK 623), đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức lại tài khoản và luân chuyển chứng từ mang tính khả thi cho đơn vị thực tập.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian thực tập và phạm vi dữ liệu được đơn vị cung cấp, khóa luận chỉ trích xuất số liệu chứng từ thực tế chi tiết đối với khoản mục Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621) của một hạng mục công trình đơn lẻ (Nhà ăn trường THPT Phan Bội Châu) trong tháng 10/2015. Các khoản mục Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622), Chi phí sản xuất chung (TK 627) và quy trình kết chuyển tính giá thành tổng thể khi công trình hoàn thành bàn giao chưa được cung cấp đủ bộ sổ cái, sổ chi tiết và thẻ tính giá thành tương ứng trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu toàn bộ chu trình tính giá thành đến khi quyết toán, nghiệm thu bàn giao toàn bộ công trình; đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí thực tế sau khi công ty tái lập Tài khoản 623 và tách biệt vị trí thủ quỹ theo các giải pháp đã kiến nghị.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Tài chính doanh nghiệp đang thực hiện khóa luận, chuyên đề tốt nghiệp về đề tài kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
  • Cán bộ kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ có nhu cầu tham khảo quy trình hạch toán trên phần mềm kế toán MISA theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, bao gồm quy trình luân chuyển bộ chứng từ mua hàng xuất thẳng và xuất kho nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn áp dụng chế độ kế toán và hình thức ghi sổ nào?
Công ty áp dụng Chế độ Kế toán Doanh nghiệp theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính (trước đó là Quyết định 15/2006/QĐ-BTC), ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung và thực hiện toàn bộ trên phần mềm kế toán MISA.

2. Điểm khác biệt lớn nhất giữa thực tế hạch toán chi phí tại công ty so với lý thuyết xây dựng cơ bản là gì?
Lý thuyết hạch toán chi phí xây lắp quy định 4 khoản mục (TK 621, TK 622, TK 623, TK 627). Tuy nhiên, công ty không sử dụng TK 623 (Chi phí sử dụng máy thi công). Lương và bảo hiểm của công nhân lái máy được đưa vào TK 622; các chi phí thuê ngoài máy móc và khấu hao xe máy thi công được đưa vào TK 627. Ngoài ra, chi phí vận chuyển vật liệu được tính vào TK 627 thay vì tính vào giá gốc vật tư.

3. Công ty áp dụng phương pháp nào để tính giá trị nguyên vật liệu xuất kho?
Công ty áp dụng phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ. Ví dụ trong tháng 10/2015, đơn giá xuất kho thép cuộn Ø6 được tính ra là 11.260 đồng/kg và áp dụng tính cho lượng xuất dùng 960 kg với tổng giá trị 10.809.600 đồng.

4. Nghiệp vụ mua gạch xuất thẳng đến công trình Nhà ăn trường THPT Phan Bội Châu được định khoản và xử lý chứng từ ra sao?
Căn cứ Phiếu yêu cầu vật tư, Hợp đồng kinh tế, Hóa đơn GTGT số 0001051 và Giấy đề nghị thanh toán số 2015/PBC/NA/18 ngày 21/10/2015 (mua 14.970 viên gạch nung từ Công ty TM Vận tải Thành Đạt, đơn giá 1.120 đ/viên), kế toán thanh toán tiền mặt và định khoản:

  • Nợ TK 6211 (PBC_NHA_AN): 16.766.400 đồng
  • Nợ TK 1331: 1.676.640 đồng
  • Có TK 1111: 18.443.040 đồng

5. Cơ cấu nhân sự bộ máy kế toán của công ty có điểm bất cập nào về mặt kiểm soát nội bộ?
Do quy mô tinh giản để tiết kiệm chi phí quản lý, công ty bố trí Kế toán chi phí giá thành kiêm nhiệm chức năng Thủ quỹ. Việc một nhân sự vừa theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành vừa trực tiếp quản lý, thu chi tiền mặt là vi phạm nguyên tắc phân công - phân nhiệm trong kiểm soát nội bộ, tiềm ẩn rủi ro sai sót và thất thoát tài sản.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thu Hương đã phản ánh chi tiết thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Hoàng Liên Sơn trong giai đoạn chuyển giao sang Thông tư 200/2014/TT-BTC. Công trình cung cấp hệ thống số liệu tài chính 2012–2014, mô tả chi tiết quy trình xử lý chứng từ và hạch toán thực tế trên phần mềm MISA tại một công trình xây dựng cụ thể. Mặc dù còn hạn chế về việc thiếu vắng dữ liệu hoàn chỉnh ở các khoản mục chi phí nhân công và tính giá thành cuối cùng, các phân tích về sự tinh giản tài khoản (bỏ TK 623) và đề xuất hoàn thiện bộ máy kế toán mang tính thực tiễn cao đối với các doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ.